Du lịch đảo Phú Quý

Du lịch đảo Phú Quý Giúp du khách khám phá những nét hoang sơ huyền bí trên hòn đảo xinh đẹp này.

Kết thúc năm du lịch quốc gia 2023 "Bình Thuận - Hội tụ xanh" số lượng khách du lịch đến Phú Quý là 159.086 lượt khách; ...
29/01/2024

Kết thúc năm du lịch quốc gia 2023 "Bình Thuận - Hội tụ xanh" số lượng khách du lịch đến Phú Quý là 159.086 lượt khách; trong đó khách nội địa là 158.831 lượt, khách nước ngoài là 2.595 lượt (vượt 279% so với kế hoạch năm đề ra là 57.000 lượt).

CỘT CỜ CHỦ QUYỀN ĐẢO PHÚ Cột cờ Phú Quý có tên đầy đủ là Cột cờ chủ quyền Tổ quốc tại đảo Phú Quý. Cột cờ Phú Quý là 1 t...
04/12/2023

CỘT CỜ CHỦ QUYỀN ĐẢO PHÚ

Cột cờ Phú Quý có tên đầy đủ là Cột cờ chủ quyền Tổ quốc tại đảo Phú Quý. Cột cờ Phú Quý là 1 trong 7 cột cờ thuộc Dự án xây dựng cột cờ chủ quyền Tổ quốc tại các đảo tiền tiêu trải dọc đất nước do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam chủ trì với sự phối hợp thực hiện của Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV).
Cột cờ Phú Quý được khởi công xây dựng từ ngày 17/6/2015 trên diện tích gần 200 m2 tại mỏm Đông đồi Chuối, phía dưới là bãi biển Gành Hang (thôn Triều Dương, xã Tam Thanh). Công trình có 4 phần gồm đài cột, thân đế cột cờ, bậc thềm và khuôn viên xung quanh. Đài Cột cờ Phú Quý có chiều cao 22,6 m bằng sắt với
kích cỡ cờ là 4 x 6m. Thân đế cột cờ với 4 mặt đều nhau, cao 5,2m được xây bằng bê tông cốt thép giúp Cột cờ Phú Quý được vững chãi. Bề mặt thân Cột cờ Phú Quý được ốp đá granit màu trắng xám, trang trí 2 biểu tượng Cờ đỏ Sao vàng, Quốc huy, Quốc hiệu và tọa độ địa lý của Cột cờ Phú Quý. Phần bậc thềm và khuôn viên xung quanh có hình vuông, hướng ra biển Đông. Móng cột cờ có diện tích khoảng 10,24 m2, chôn sâu dưới lớp đá núi với kỹ thuật kết cấu móng vững chắc (của các công trình hải đăng). Riêng lá cờ Tổ quốc treo trên Cột cờ Phú Quý có kích thước 4 x 6m, được may bằng chất liệu vải có độ bền cao nhằm thích ứng gió biển mạnh. Tổng mức kinh phí đầu tư xây dựng cột cờ chủ quyền trên huyện
đảo Phú Quý hơn 1,26 tỷ đồng.
Công trình có ý nghĩa thiêng liêng với Tổ quốc, dân tộc, góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào và ý thức, trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo cho tuổi trẻ và nhân dân trên đảo.

THẺ VIỆTDu lịch Phú Quý đang hướng đến không dùng tiền mặt.
24/11/2023

THẺ VIỆT
Du lịch Phú Quý đang hướng đến không dùng tiền mặt.

Từ thuở tạo lập đến nay, đây là một thiết chế văn hóa dân gian truyền thống gắn với sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng và đờ...
18/10/2023

Từ thuở tạo lập đến nay, đây là một thiết chế văn hóa dân gian truyền thống gắn với sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng và đời sống văn hóa tinh thần của người dân làng Thương Hải xã Ngũ Phụng, huyện Phú Quý. Quần thể di tích thờ phụng 2 vị thần khác nhau trong 2 ngôi chính điện xây liền kề nhau. Nhìn từ hướng đối diện thì ngôi chính điện bên tả thờ Bà Chúa Ngọc (còn gọi là Pô Inư Nagar hay Thiên Ya Na Diễn Ngọc Phi - một vị nữ thần được người Chăm tôn vinh là Bà Mẹ Xứ Sở). Ngôi chính điện bên hữu thờ Ông Nam Hải (cá Voi) theo tín ngưỡng ngư nghiệp.
Đền thờ Bà Chúa Ngọc và Vạn Thương Hải nằm trên địa phận làng Thương Hải xã Ngũ Phụng huyện Phú Quý, tọa lạc trên một bãi cát trắng sát cạnh bờ biển, các hang mục kiến trúc chính của di tích đều quay về hướng Tây. Quần thể kiến trúc của di tích tuy được bố trí trong cùng một khuôn viên nhưng có hai chức năng thờ phụng khác nhau. Mỗi ngôi chính điện được trang trí ở ngoại thất và bài trí bên trong nội thất các khám thờ, các vật thờ, hoành phi, câu đối… thể hiện rõ chức năng, nội dung thờ phụng cũng như nét tín ngưỡng đặc sắc của người dân địa phương.
Bà Chúa Ngọc hay Thiên Ya Na là tên gọi của người Việt có nguồn gốc, xuất xứ từ Pô Inư Nagar - một vị nữ thần của dân tộc Chăm gắn với nhiều huyền thoại linh thiêng, hiện thân cho người Mẹ sáng tạo ra muôn loài và được người Chăm tôn kính coi là Bà Mẹ Xứ Sở. Tương truyền: Bà được trời sai xuống trần gian để tạo ra quả đất. Sáng tạo ra vạn vật và muôn loài, dạy dân làm nhà, trồng lúa, dệt vải và vun đắp tình cảm yêu thương cho con người. Bà cai quản tất cả mọi miền, mọi nơi, là Mẹ lớn của tất cả các Mẹ Xứ Sở. Bà luôn cưỡi voi trắng đi mây về gió để ban phước lành cho mọi người.
Đối với tục thờ Thần Nam Hải (cá voi) trong dân gian người Việt cũng như người Chăm và người Hoa đều cho rằng: cá Voi không phải là một loài cá bình thường mà là một loài cá thần. Biểu hiện ở đây không phải là sức vóc to lớn và sức chịu đựng khác thường, mà là loài cá có suy nghĩ, có tình cảm và đặc biệt là sự cảm nhận và tâm linh như con người. Không phải ngày xưa mà ngay cả bây giờ nhiều người vẫn nghĩ thế. Do đó cá Voi được thờ phụng rất tôn nghiêm. Truyền thuyết của người Việt ở vùng biển thì cho rằng: cá Voi là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát. Xưa kia, Đức Phật Quan Âm trong lần tuần du đại hải, do ngậm ngùi đau xót cho số phận của người trần bị chết chìm ngoài biển khơi, nên đã xé chiếc áo cà sa làm muôn ngàn mảnh đem thả trên mặt biển và làm phép biến thành cá Ông, Đức Phật lấy bộ xương Voi ban cho để cá có thân hình to lớn, lại ban cho phép thâu đường để lội thật mau hầu làm tròn trách nhiệm cứu vớt người lâm nạn. Cốt lõi của những truyền thuyết ấy chính là đề cao việc cá Voi cứu giúp người gặp nạn ngoài biển khơi và giúp cho ngư dân được mùa biển.
Đền thờ Bà Chúa Ngọc và Vạn Thương Hải ngoài chức năng thờ phụng Bà Thiên Ya Na, Ông Nam Hải (cá Voi) và các bậc Tiền, Hậu hiền có công quy tập dân cư đến khẩn hoang, sinh cơ lập nghiệp, lập làng …còn là nơi diễn ra các lễ nghi, hội hè gắn với các nhân vật được thờ theo tập tục, tín ngưỡng dân gian của cộng đồng dân cư trong làng qua nhiều thế hệ. Hàng năm, tại đền thờ Bà Chúa Ngọc và Vạn Thương Hải diễn ra hai kỳ tế lễ chính: Tế Xuân vào tháng Giêng âm lịch và Tế Thu vào tháng Tám âm lịch. Lễ hội tế Xuân và tế Thu diễn ra vào tháng Giêng và tháng Tám hàng năm, không có ngày cố định mà người ta chọn ngày tốt trong tháng để tế lễ, thời gian diễn ra lễ hội kéo dài trong 2 ngày. Trước ngày tế lễ, đông đảo bà con trong làng đủ mọi giới và lứa tuổi nô nức tập trung về đền và lăng để dọn dẹp, lau chùi, sửa soạn lại các khám thờ, đồ thờ và bài trí, đơm hoa quả lên các khám thờ. Ngoài sân và dọc theo các tường thành, cổng Tam quan trang trí các loại cờ lễ càng làm cho không khí lễ hội tại di tích thêm phần sinh động và trang nghiêm.
Sáng ngày đầu diễn ra lễ hội, mọi người trong làng và các làng lân cận trong trang phục lễ tươm tất tập trung về đền. Mở đầu là nghi lễ thỉnh sắc phong Bà Chúa Ngọc và Ông Nam Hải từ trên khám thờ xuống đặt lên kiệu lễ. Tiếp đó là nghi thức thỉnh sắc phong Bà Chúa Ngọc và Ông Nam Hải đi qua các ngõ đường trong làng. Đoàn lễ thỉnh sắc phong được bố trí đông đúc và trang nghiêm, có kiệu, tàn, lọng, cờ ngũ sắc, chiêng, trống, bát bửu… đội chèo bả trạo, đội nhạc lễ, đội múa tứ linh với hàng trăm người tham gia. Hầu hết những người trong đoàn lễ đều mặc đồ lễ trang trọng, những người trong Ban lâm tế và các cụ cao niên mặc áo dài màu đen hoặc xanh, đầu đội khăn đóng. Sau khi đi qua các ngõ đường trong làng, đoàn lễ ra bãi biển làm nghi thức thỉnh rước Ông Nam Hải về vạn hưởng lễ. Sau khi dâng hương, đèn, trà rượu, hoa quả và khấn tế xong, ông chủ lễ (chánh bái) đọc bài văn tế viết bằng chữ Hán thỉnh mời Ông Nam Hải và các vị thần trên biển về chứng giám. Đọc xong bài văn tế, đoàn lễ thỉnh rước Ông Nam Hải về vạn an vị để chứng giám và thụ hưởng các lễ vật do dân làng dâng tế.
Theo tập tục có từ lâu đời, Ban lâm tế tổ chức cúng tế cho Bà Thiên Ya Na trước rồi mới cúng tế Ông Nam Hải sau. Lễ vật cúng tế thần bao gồm: hương đèn, trà rượu, trầu cau, hoa quả và các loại đồ mặn như: heo, gà, bò (riêng bên đền thờ Thiên Ya Na kiêng cử, không cúng bò theo tập tục của người Chăm Bàlamôn). Nghi lễ tế Bà Thiên Ya Na và Ông Nam Hải đều có đọc văn tế, ông chủ lễ là người trực tiếp đọc văn tế, ngoài ra còn có những người phụ lễ như: Đông hiến, Tây hiến, bồi bái và học trò lễ. Cúng tế cho các vị thần xong, sau cùng Ban lâm tế mới cúng tế cho các bậc Tiền, Hậu hiền được thờ phụng tại Đền và Vạn. Trước đây, ngoài phần lễ, vào các dịp tế lễ thường tổ chức đua thuyền vào ban ngày và hát Bộ vào ban đêm. Đây là những trò chơi, những làn điệu dân gian vô cùng sôi động và hấp dẫn có sức thu hút đông đảo người dân địa phương tham gia và hưởng ứng.
Theo các cụ cao niên và người dân trên đảo, đến nay mọi người vẫn còn lưu truyền câu nói “Xuân cầu, Thu báo”. Ý nghĩa của câu nói nhằm nhắc nhở mọi người giữ gìn tập tục truyền thống cũng như tục lệ hàng năm tại Đền và Vạn có 2 kỳ tế lễ. Tế Xuân vào dịp đầu năm để thỉnh cầu Bà Thiên Ya Na và Ông Nam Hải phù trợ cho quốc thái dân an, cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cả nông và ngư nghiệp được bội thu. Tế Thu vào dịp tháng Tám là để trả lễ, báo ân cho Bà Thiên Ya Na và Ông Nam Hải đã bảo bọc, chở che, phù trợ giúp mọi người đạt được những điều đã khẩn nguyện và thỉnh cầu trong dịp tế Xuân vào đầu năm. Việc làm đó thể hiện được đạo lý, tính nhân văn và thuần phong mỹ tục đáng trân trọng của người dân trên đảo. Lễ hội văn hóa dân gian tại đền thờ Bà Chúa Ngọc và vạn Thương Hải cũng là dịp để những người dân trong làng và các làng cân cận có dịp hội ngộ, gặp gỡ, vui vầy bên nhau sau những tháng ngày dài trong những chuyến đánh bắt xa bờ đầy gian nan, trắc trở. Để mọi người cùng trao đổi và truyền đạt những kinh nghiệm làm ăn trong ngư nghiệp lẫn nông nghiệp, giúp nhau trong làm ăn và cuộc sống, tình làng nghĩa xóm và tính cộng đồng ngày càng được thắt chặt gần gũi hơn.
Có thể nói Đền thờ Bà Chúa Ngọc và Vạn Thương Hải chứa đựng nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc của vùng biển đảo. Tại di tích còn bài trí nhiều di vật, các đồ thờ tự có giá trị như khám thờ, hoành phi, câu đối, bao lam, chiêng, trống, sắc phong, văn tế… có niên đại xa xưa góp phần nâng cao nét thâm nghiêm, trang trọng, tính nghệ thuật của công trình kiến trúc dân gian. Đền thờ Bà Chúa Ngọc và Vạn Thương Hải được các vua triều Nguyễn ban tặng 10 sắc phong. Trong số đó có 5 sắc phong thần cho Bà Chúa Ngọc, 3 sắc phong cho Thần Nam Hải và 2 sắc phong thần cho Bắc Trấn đô đốc Bùi Quận Công.
Trải qua hơn 200 năm tồn tại, Đền thờ Bà Chúa Ngọc và Vạn Thương Hải đã được sửa chữa, trùng tu nhiều lần. Năm 2002, Ban quản lý di tích đã vận động nhân dân trong làng đóng góp công sức và tiền của để trùng tu, tôn tạo lại cổng Tam quan theo kiểu dáng xưa khá quy mô, bề thế; góp phần tôn thêm vẻ mỹ quang và trang nghiêm cần thiết cho di tích.
Với những giá trị di tích độc đáo và đặc sắc, Đền thờ Bà Chúa Ngọc và Vạn Thương Hải được UBND tỉnh Bình Thuận xếp hạng Di tích lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh tại Quyết định số: 2958/QĐ-UBND ngày 16/11/2007.

Tôi đã từng giúp một trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh thực hiện khảo sát du lịch tại đảo Phú Quý để phục vụ xây dự...
26/09/2023

Tôi đã từng giúp một trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh thực hiện khảo sát du lịch tại đảo Phú Quý để phục vụ xây dựng Đề tài nghiên cứu khoa học. Trong số nội dung câu hỏi khảo sát, có câu:
Hỏi: Bạn đến Phú Quý du lịch lần đầu phải không? Trả lời: Dạ phải.
Hỏi: Bạn có dự kiến quay lại đảo Phú Quý du lịch lần thứ hai không? Đa số các bạn trẻ trả lời: Dạ có, nếu đảo Phú Quý còn “Hoang sơ” và môi trường “Xanh, Sạch”.
Thiết nghĩ, cần có thêm những hoạt động như thế này để môi trường đảo Phú Quý luôn sạch, nhằm bảo vệ sức khỏe cho chính bản thân mình và thu hút khách du lịch.

Bãi tắm Lạch Xanh - đảo Phú Quý
09/09/2023

Bãi tắm Lạch Xanh - đảo Phú Quý

CÓ LẼ 04 LÝ DO THU HÚT LƯỢNG KHÁCH DU LỊCH ĐẾN ĐẢO PHÚ QUÝ NĂM 2023 TĂNG KHỦNGMột là, năm 2023 tỉnh Bình Thuận đăng cai ...
07/08/2023

CÓ LẼ 04 LÝ DO THU HÚT LƯỢNG KHÁCH DU LỊCH ĐẾN ĐẢO PHÚ QUÝ NĂM 2023 TĂNG KHỦNG

Một là, năm 2023 tỉnh Bình Thuận đăng cai tổ chức Năm du lịch Quốc gia “Bình Thuận - Hội tụ xanh”, huyện Phú Quý là khu du lịch cấp tỉnh.
Hai là, đảo Phú Quý đang khoác lên mình “Nét đẹp Hoang sơ và Thơ mộng”.
Ba là, đi du lịch đảo Phú Quý “Ngon - Bổ - Rẻ”.
Bốn là, người dân đảo Phú Quý “Thật thà, Nghĩa tình và Mến khách”.

P/S: Số liệu du khách đến Phú Quý 6 tháng đầu năm 2023 là 89.797 lượt (trong khi đó kế hoạch năm 2023 dự kiến chỉ đón 57.000 lượt), tăng 202,4% so với cùng kỳ 6 tháng đầu năm 2022.

BÃI NHỎ - GÀNH HANGPhú Quý đâu chỉ có dãy núi Cao Cát kỳ bí, vịnh Triều Dương thơ mộng hay Hòn Tranh yên bình, mà nơi đâ...
04/08/2023

BÃI NHỎ - GÀNH HANG
Phú Quý đâu chỉ có dãy núi Cao Cát kỳ bí, vịnh Triều Dương thơ mộng hay Hòn Tranh yên bình, mà nơi đây còn khiến du khách phải say mê bởi vẻ đẹp hoang sơ và quyến rũ của Bãi Nhỏ - Gành Hang do thiên nhiên ưu ái ban tặng. Cách cảng Phú Quý khoảng 4km, khu du lịch Bãi Nhỏ - Gành Hang với diện tích khoảng 20ha đang là một điểm đến thu hút khách du lịch bởi vẻ đẹp bình yên và nên thơ.
Gành Hang gây ấn tượng với du khách bởi những vách đá sừng sững dựng đứng sát biển với nhiều hình thù, màu sắc khác nhau do dấu ấn nham thạch của hoạt động phun trào núi lửa trước đây để lại; quanh năm là những con sóng va đập vào tung bọt trắng xóa, tạo nên một cảnh tượng thiên nhiên hùng vĩ đẹp tuyệt vời; thì Bãi Nhỏ nằm ngay dưới chân đồi lại có sức mê hoặc người xem bằng một bãi cát nhỏ hình lưỡi liềm trắng mịn và tinh khiết tạo nên bức tranh cực kỳ thơ mộng. Trên ngọn đồi là Cột cờ Phú Quý đứng sừng sững và hiên ngang trước biển, Cột cờ được xây dựng năm 2015 với độ cao 45m so mặt nước biển, là biểu tượng khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam, là nơi sinh hoạt truyền thống cho thế hệ trẻ, là điểm ngắm bình minh tuyệt vời trên đảo.
Ở đây có sự kết hợp giữa những nét đối lập rất mạnh mẽ, yêu kiều, thùy mị, hài hòa và tương trợ cho nhau tạo nên cảnh sắc thiên nhiên phù hợp đến bất ngờ; vừa mang một vẻ đẹp hoang sơ, mộc mạc, bình dị lại vừa chứa đựng không gian trữ tình và cuốn hút đến lạ thường. Nước biển ở Bãi Nhỏ - Gành Hang không chỉ xanh biếc như muốn hòa với màu trời mà còn trong veo, giúp bạn có thể tận mắt chiêm ngưỡng các rạn san hô xinh đẹp dưới đáy biển và ngay cả khi đứng trên bờ. Trên bãi cát thì được tô điểm bởi những mỏm đá đen thô sơ mang nhiều hình thù kỳ lạ tựa như đang vươn mình ra biển tạo nên một khung cảnh vô cùng hoang dã, huyền bí, thoáng đãng.
Mỗi khi mặt trời lên, những tia nắng chiếu vàng lại khiến mặt biển trở nên rực rỡ, lấp lánh như được dát lên một lớp kim tuyến óng ánh, kết hợp với sự bao la của núi non, mây trời làm cho tâm hồn người vãng cảnh như lâng lâng bay bổng, bình yên đến lạ. Đặc biệt, dưới bàn tay tạo tác kỳ diệu của thiên nhiên, các vách đá lớn còn được kết nối với nhau tạo thành một hố trũng giữa biển, được nhiều người yêu thích gọi là “hồ bơi nước mặn” độc đáo mà bạn sẽ chẳng thể tìm thấy ở các bãi biển khác quanh đảo. Nơi đây không có ngư dân sinh sống, cũng ít ghe thuyền neo đậu, những gì nguyên sơ nhất vẫn còn được lưu giữ lại nên môi trường thiên nhiên trong sạch đến bất ngờ, đây là một đặc điểm tưởng chừng như đơn giản nhưng lại rất khó thấy ở các khu du lịch khác trên đảo. Với lợi thế là nước biển trong xanh nên việc ngâm mình dưới biển để làn nước mát xa thư giãn cho cơ thể, đùa nghịch cùng những con sóng trắng xóa xô nhau chạy vào bờ hay lặn xuống dưới biển sâu để ngắm rạn san hô rực rỡ sắc màu… chắc chắn là những hoạt động mà bạn không thể bỏ qua. Hoặc chỉ đơn giản là ngồi trên các vách đá ngắm nhìn khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp xung quanh hay nằm ườn ra bãi cỏ trên đồi tận hưởng không khí trong lành, thoáng đãng của Bãi Nhỏ - Gành Hang và trở về tuổi thơ với việc tưởng tượng hình dáng của các đám mây trên bầu trời xanh vời vợi khiến bạn cũng phải mê hoặc và không muốn rời bước.
Hay bạn cũng có thể thức dậy mỗi sáng sớm đến đây để ngắm vẻ đẹp lung linh của buổi bình minh và nán lại khi hoàng hôn buông xuống để đắm mình vào cảnh sắc huyền ảo, cùng thưởng thức âm thanh rì rào dịu êm như một bản nhạc hòa ca của sóng biển, đảm bảo sẽ là một kỷ niệm đẹp mà bạn không thể quên được.
Bãi Nhỏ - Gành Hang Phú Quý với biển trời, các dãy đồi và cây cỏ dại, sẽ cho các bạn một cảm giác như được hòa tan vào thiên nhiên, xua đi bao phiền muộn của cuộc sống hối hả. Vậy các bạn không nên chần chừ mà hãy đến đây du lịch khám phá và trải nghiệm đi nhé.

MỘ THẦY SÀI NẠIMộ Thầy Sài Nại tọa lạc trên một gành đá nhô ra biển có tên gọi là Doi Thầy ở về phía Đông Bắc đảo Phú Qu...
01/08/2023

MỘ THẦY SÀI NẠI
Mộ Thầy Sài Nại tọa lạc trên một gành đá nhô ra biển có tên gọi là Doi Thầy ở về phía Đông Bắc đảo Phú Quý, thuộc địa phận xã Long Hải. Mộ nằm cách UBND xã Long Hải 2km về hướng Nam, cách trung tâm huyện Phú Quý 3,5km về hướng Đông và cách cảng Phú Quý 4km về hướng Đông Bắc. Từ cảng Phú Quý, du khách theo con đường nhựa liên xã Tam Thanh - Long Hải khoảng 3km là đến thôn Đông Hải, từ đây rẽ phải về hướng Đông trên đường Lê Lai khoảng 1km là đến Mộ Thầy.
Trên đảo Phú Quý từ trước đến nay, trong số các thiết chế tín ngưỡng dân gian có từ lâu đời thì đền thờ, lăng mộ và truyền thuyết gắn với công chúa Bàn Tranh và Thầy Sài Nại đã trở nên hết sức linh hiển và gắn chặt với đời sống tâm linh đối với người dân trên đảo. Truyền thuyết về Thầy Sài Nại được người dân Phú Quý lưu truyền theo 2 nội dung khác nhau sau đây:
Truyền thuyết thứ nhất kể rằng: Thầy Sài Nại là nhà địa lý thiên văn người phương Bắc, Ông thường theo các thuyền buôn vượt đại dương đến nhiều nước để hành nghề. Tình cờ trong một chuyến hành trình, Ông và các thủy thủ ghé vào đảo Phú Quý để nghỉ ngơi và phát hiện đây là vùng địa linh so với các hòn đảo khác mà Ông đã tới. Khi rời đảo, Ông đã thổ lộ ước nguyện của mình với gia đình và các thủy thủ đoàn là sau khi qua đời hãy đưa tro cốt của Ông tới đảo Phú Quý an táng.
Ngày mùng 04 tháng 4 năm Nhâm Thìn Thầy qua đời, tro cốt của Ông được một đoàn thuyền buồm xuất phát từ biển Bắc di lý về phương Nam và đưa lên đảo Phú Quý an táng vào ban đêm, rồi đoàn thuyền rời đảo ngay trong đêm hôm đó mà không ai trên đảo hay biết. Sáng hôm sau người dân rất ngạc nhiên khi thấy có rất nhiều hương đèn, hoa quả, trà rượu, heo gà tại khu vực gành đá ở sát biển (nơi Mộ Thầy hiện nay). Tin đồn lan nhanh khiến người dân tò mò kéo đến xem rất đông và người ta phát hiện có một chiếc khạp sành đựng tro cốt người được chôn tại đây.
Truyền thuyết thứ hai kể rằng: Thầy Sài Nại là thương gia ở phương Bắc vào thế kỷ XVI, Ông thường theo các thương thuyền vượt biển đến nhiều nước để buôn bán. Ngoài nghề buôn bán, Ông còn là thầy thuốc giỏi. Trong một chuyến buôn bán, thuyền của Ông bị bão tố đẩy dạt lên đảo Phú Quý. Trong những ngày trú ẩn trên đảo, Ông đã gặp công chúa Bàn Tranh, hai người kết nghĩa chị em và từ đó Ông ở lại đảo Phú Quý sinh sống, hành nghề bốc thuốc chữa bệnh giúp đỡ dân nghèo. Sau khi qua đời, Thầy được người dân trên đảo an táng tại khu vực gành đá (Doi Thầy).
Mộ Thầy Sài Nại: Nhìn từ phía đối diện vào thì Mộ Thầy tọa lạc bên tả, Mộ được xây bằng nhiều lớp đá san hô chồng lên nhau theo dạng hình trụ tròn có đường kính 2,2m; cao 90cm và thành Mộ dày 55cm. Phía sau Mộ là Am thờ Thầy được xây theo dạng nhà 2 nóc nối liền nhau. Nằm về bên phải của Am thờ là nhà Khách và phía sau là nhà Khói. Hàng năm tại Mộ Thầy diễn ra 2 kỳ tế lễ chính vào tháng giêng và tháng 7 Âm lịch; người dân trên đảo tề tựu về đây rất đông để dâng hương tưởng niệm, khấn bái cầu mong Thầy bảo bọc, chở che cho họ làm ăn phát đạt, no đủ và cuộc sống bình an giữa đảo xa.
Nghi lễ cúng Mộ Thầy gắn với lễ hội đền thờ Thầy Sài Nại diễn ra vào ngày mùng 04 tháng 4 Âm lịch hàng năm, luôn thu hút hầu hết người dân khắp các làng trên đảo về tham dự. Sáng sớm ngày diễn ra lễ hội, làng đang trong phiên trách thờ phụng, cúng tế tổ chức đoàn lễ nghinh rước sắc phong Thầy Sài Nại và công chúa Bàn Tranh từ làng mình đến đền thờ Thầy. Đoàn rước được tổ chức theo nghi thức dân gian truyền thống, có đủ các loại cờ lễ, bát bửu, nhạc lễ, kiệu lễ, tàng, lọng với hàng trăm người tham gia.
Lễ vật dâng tế lên Thầy Sài Nại tại đền thờ gồm: Bò, heo, gà, hương đèn, trà rượu, hoa quả, việc tế lễ diễn ra theo nghi thức xưa hết sức long trọng. Kết thúc lễ hội, làng đến phiên trách thờ phụng, cúng tế công chúa Bàn Tranh và Thầy Sài Nại sẽ nhận sắc phong và tổ chức đoàn lễ trân trọng nghinh rước sắc phong về làng mình thờ phụng trong niềm hân hoan, vui mừng và vinh dự của người dân trong làng.
Đền thờ và Mộ Thầy Sài Nại chứa đựng các giá trị về lịch sử, văn hóa khá đặc sắc. Những truyền thuyết liên quan đến Thầy được lưu truyền đến tận hôm nay gắn liền với lịch sử khai lập và nguồn gốc dân cư trong buổi đầu đến tiếp quản và xây dựng cuộc sống trên đảo Phú Quý.
Nói đến đền thờ và Mộ Thầy là nói đến những giá trị mang đậm tính nhân văn. Đến nay người dân trên đảo vẫn tin rằng sau khi quy thiên, Thầy hóa thành vị thần rất hiển linh, hiện thân của Thầy là 3 tiếng sấm nổ vang và sau đó xuất hiện một ánh hào quang sáng rực như mặt trời. Người dân trên đảo từ trước đến nay luôn tin tưởng vào sự linh ứng và trợ giúp của Thầy. Rất nhiều người cho rằng chính họ đã được Thầy cứu giúp để vượt qua những cơn nguy biến, nhất là trong những chuyến biển đầy phong ba bão tố hay trong lúc chiến tranh hoạn lạc. Mỗi khi gặp nạn, người dân cầu khấn, thầm niệm câu: “Thầy Sài Nại thông linh chiêu ứng mặc chất đoan túc gia tặng dực bảo trung hưng tiết kinh quang ý trung đẳng thần phù hộ…” thì Thầy sẽ xuất hiện ứng cứu.
Sự linh ứng trong việc trợ giúp dân làng của Thầy đã được các vua triều Nguyễn ghi nhận, ban tặng cho Thầy 3 sắc phong và truyền chỉ cho dân chúng các làng trên đảo phải phụng thờ Thầy cho thật chu đáo. Lâu nay, việc lưu giữ, thờ phụng sắc phong, trông nom và cúng tế tại đền thờ Thầy Sài Nại và công chúa Bàn Tranh được luân phiên giữa các làng trên đảo theo trình tự. Mỗi làng cúng tế 1 năm, thời điểm giao phiên từ làng này qua làng khác là vào ngày mùng 04 tháng 4 Âm lịch. Đây là nét đẹp văn hóa độc đáo, hiếm thấy so với những nơi khác trong đất liền.

ĐỀN THỜ CÔNG CHÚA BÀN TRANHĐền thờ công chúa Bàn Tranh tọa lạc tại thôn Quý Hải, xã Long Hải, cách UBND huyện Phú Quý và...
28/07/2023

ĐỀN THỜ CÔNG CHÚA BÀN TRANH
Đền thờ công chúa Bàn Tranh tọa lạc tại thôn Quý Hải, xã Long Hải, cách UBND huyện Phú Quý và cảng Phú Quý khoảng 4km về hướng Đông Bắc. Đền thờ công chúa Bàn Tranh đã được UBND tỉnh Bình Thuận xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2007. Sau đó, hồ sơ khoa học đền thờ được nâng tầm trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích cấp quốc gia vào năm 2015
Đền thờ do người Chăm xây dựng từ cuối thế kỷ XV, theo tương truyền công chúa Bàn Tranh của vương quốc Chămpa do phạm tội đã bị vua cha đày ra đảo từ khi còn rất trẻ, sau khi qua đời Bà được an táng tại đây. Về sau khi người Kinh đến đảo tiếp quản đã gọi đền là đền thờ công chúa Bàn Tranh.
Do công lao to lớn cũng như sự linh thiêng của Bà trong việc phù hộ, độ trì cho người dân trên đảo, nên Bà được tôn xưng là Bà Chúa Xứ hoặc Bà Chúa Đảo.
Đền thờ công chúa Bàn Tranh thể hiện bước kế thừa, tiếp biến và tích hợp văn hóa hết sức khéo léo của người Kinh đối với văn hóa truyền thống Chăm khi đến tiếp quản và xây dựng cuộc sống trên đảo Phú Quý. Ngoài việc kế thừa, thờ phụng công chúa Bàn Tranh, trong dân gian Phú Quý đến nay vẫn còn lưu lại những truyền thuyết về Bà; trong tâm thức và suy nghĩ người dân trên đảo xem Bà là vị thần rất hiển linh, luôn ở bên cạnh để che chở, phù trợ người dân trong nghề nghiệp và cuộc sống. Trong nhiều thế kỷ qua, người Việt ở Phú Quý đã không ngừng đóng góp công của trùng tu và tôn tạo, cũng như thờ phụng, cúng tế trang nghiêm theo phong tục tập quán của mình. Tín ngưỡng thờ công chúa Bàn Tranh lâu nay đã trở thành tín ngưỡng chung và thiêng liêng nhất của người dân trên đảo, việc thờ phụng và cúng tế hàng năm được diễn ra luân phiên giữa các làng thuộc 3 xã trên đảo với nhau (xưa kia là 14 làng, sau này còn 9 làng), mỗi làng được giữ sắc phong, phụng thờ và cúng tế một năm, qua năm sau luân chuyển sang làng khác.
Đền thờ công chúa Bàn Tranh tọa lạc trên khuôn viên đất rộng rãi, thoáng mát gần chân núi Cao Cát và được Nhân dân trên đảo gọi là khu ruộng Bà Chúa. Kiểu dáng kiến trúc đền thờ hiện nay không còn lưu giữ kết cấu nguyên gốc như xưa, vì đền đã bị hư hỏng và được tu bổ, tôn tạo, sửa chữa nhiều lần. Đền thờ được tôn tạo lại gần đây có quy mô và kết cấu kiến trúc bề thế, trang nghiêm, gồm: Chính điện, Võ ca, nhà Khách, nhà Khói và Cổng chính; phía trước là một khoảng sân rộng lát gạch sạch sẽ, là nơi tổ chức hành lễ và trò chơi dân gian vào những dịp lễ hội. Hướng chính của đền quay về phía Tây Nam.
Giá trị của kiến trúc và linh hồn của đền thờ tập trung ở Chính điện. Nội thất bài trí 3 khám thờ, khám giữa thờ công chúa Bàn Tranh, hai khám hai bên tả, hữu thờ Tiền hiền và Hậu hiền. Ở giữa khám chính thờ 3 Kút đá đặt trên bệ, Kút ở giữa lớn hơn hai Kút hai bên. Thay vì Kút của người Chăm có những đường nét điêu khắc và trang trí đặc trưng riêng; còn Kút ở đây đã có sự giao thoa giữa điêu khắc và trang trí của người Việt xen lẫn điêu khắc và trang trí của người Chăm. Giữa các Kút có khắc dòng chữ Hán Nôm như bài vị thờ có nội dung: Cung Bà Tranh vương thần vị (Cung thỉnh bài vị Bà Tranh vương). Trong Chính điện còn bố trí hai khám thờ Tiền hiền và Hậu hiền đã có công khai lập, gìn giữ và tôn tạo đền thờ từ trước đến nay. Ngoài ra, tại đền thờ còn lưu giữ một số hoành phi, câu đối khắc ghi bằng chữ Hán Nôm có nội dung ca ngợi công đức của công chúa Bàn Tranh và các bậc Tiền, Hậu hiền.
Do có công lớn trong việc khai phá, mở mang đất đai trên đảo nên công chúa Bàn Tranh được các vua triều Nguyễn ban tặng 8 sắc phong (trong đó có 5 điệu sắc ban riêng cho Bà, 3 điệu sắc còn lại ban chung cho công chúa Bàn Tranh cùng Thầy Sài Nại - vị nhân thần được người dân trên đảo tôn sùng và xây dựng đền thờ để phụng cúng. Các sắc phong là di sản quý giá, phản ánh chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên vùng hải đảo xa xôi dưới thời các vua triều Nguyễn, đây là nguồn tư liệu lịch sử xác thực rất hữu ích trong quá trình nghiên cứu lịch sử đảo Phú Quý.
Hàng năm tại đền thờ tổ chức một kỳ lễ hội chính đó là Lễ Kỵ công chúa Bàn Tranh diễn ra vào ngày mùng 3 tháng giêng Âm lịch; do thời điểm lễ hội diễn ra đúng vào dịp Tết Nguyên đán nên thu hút hầu như toàn bộ người dân trên đảo tham gia bái lễ và du xuân cùng lễ hội.
Bên cạnh đó, lễ hội Thầy Sài Nại diễn ra ngày mùng 04 tháng 4 Âm lịch, đây vừa là ngày kỵ Thầy, đồng thời cũng là ngày giao phiên sắc phong của công chúa Bàn Tranh và Thầy Sài Nại giữa làng này qua làng khác. Trong lễ hội, sau khi lễ tế Thầy Sài Nại tại đền thờ kết thúc; làng đến phiên thờ phụng sắc phong phải tổ chức đoàn lễ tục đến đền thờ Thầy Sài Nại để tiếp nhận và thỉnh sắc phong đến đền thờ công chúa Bàn Tranh bái lễ và rước về an vị, thờ phụng tại một ngôi đình, đền thờ hay lăng vạn của làng mình.
Lễ hội diễn ra tại đền thờ công chúa Bàn Tranh hàng năm thu hút đông đảo các cộng đồng người dân địa phương tham gia với tinh thần, thái độ thành kính và là chỗ dựa không thể thiếu trong đời sống văn hóa tâm linh từ xưa đến nay của Nhân dân trên đảo. Chính lễ hội tại đền thờ công chúa Bàn tranh đã khơi dậy những giá trị nhân văn tốt đẹp của người Việt Nam, đó là cách đối nhân xử thế của các thế hệ đi sau luôn tưởng nhớ, ghi ơn công lao của các thế hệ tiền nhân đi trước đã dày công khai phá đất đai, tạo lập xóm làng. Lâu nay, việc thờ phụng, cúng tế công chúa Bàn Tranh là trách nhiệm chung của người dân các làng trên đảo. Đây là nét mới lạ, độc đáo và riêng biệt chỉ có ở đảo Phú Quý mà ít khi thấy ở những nơi khác.
Du khách đến đền thờ công chúa Bàn Tranh, ngoài bái lễ, chiêm ngưỡng lối kiến trúc mang đậm dấu ấn giao lưu văn hóa giữa người Việt và người Chăm trong lịch sử; được nghe những câu chuyện kể, sự tích linh hiển về Bà, ngắm nhìn thắng cảnh thiên nhiên hùng vĩ tuyệt đẹp của núi Cao Cát từ xa và sau đó di chuyển chỉ mất hơn 5 phút để chinh phục đỉnh núi này và bái Phật tại chùa Linh Sơn tọa lạc trên đỉnh núi Cao Cát.

TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊNHuyện (đảo) Phú QuýPhú Quý là một huyện đảo thuộc tỉnh Bình Thuận, ở tọa độ 105o 55’đến 10...
26/07/2023

TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN
Huyện (đảo) Phú Quý

Phú Quý là một huyện đảo thuộc tỉnh Bình Thuận, ở tọa độ 105o 55’đến 108o 58’ kinh Đông và từ 10o 29’đến 10o 33’ vĩ Bắc. Phú Quý cách Phan Thiết khoảng 56 hải lý (hơn 100km) về hướng Đông Nam, cách quần đảo Trường Sa 540km về hướng Tây Nam và cách Hoàng Sa khoảng 725km. Khoảng cách từ Phú Quý đến Cam Ranh là 150km về phía Nam, đến Vũng Tàu là 120km về phía Đông và đến Côn Sơn là 333km về phía Đông Bắc.
Diện tích đảo Phú Quý kể cả các hòn đảo lẻ là 32km2 . Đảo chính Phú Quý rộng 17,92km2 có dáng giống như hình chữ nhật lệch, chiều dài 7km, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 4,5km. Phú Quý là miền địa đầu án ngữ phía Đông của tỉnh Bình Thuận, là địa phương gần và là vùng đảo tiền tiêu, hậu cứ của quần đảo Trường Sa.
Xung quanh Phú Quý có nhiều hòn đảo lớn nhỏ tạo thành một quần đảo, Nhân dân địa phương gọi đó là những “hòn lẻ”. Ngoài đảo chính, các hòn đảo khác được chia thành hai khu vực cách nhau từ 27 đến 35 hải lý.
Khu vực thứ nhất có 6 hòn lẻ, gồm: Hòn Trứng, Hòn Đen, Hòn Đỏ, Hòn Giữa, Hòn Trào và Hòn Chiêng.
Hòn Trứng là nơi xưa kia những bầy chim nhạn thường tụ tập sinh sản. Hòn này cách đảo chính khoảng 9km về phía Tây Bắc và nơi đây trở thành điểm neo đậu của nhiều loại ghe thuyền. Mùa gió Nam có vũng đậu ở phía Bắc, mùa gió Bấc có vũng đậu ở phía Nam.
Phía Bắc đảo Phú Quý cách bờ chừng 200 đến 300m có 3 đảo lẻ là Hòn Đen, Hòn Giữa và Hòn Đỏ. Hòn Giữa là một dãy đá gành nằm vắt ngang như một nhịp cầu nối liền giữa Hòn Đen với Hòn Đỏ. Hòn Đen gồm toàn đá đen còn gọi là Hòn Ngoài, Hòn Nghiên hay Hòn Mực. Ba hòn này được gọi bằng nhiều tên khác như Hòn Trong, Hòn Bút, Hòn Sơn, Hòn Bút Nghiên...
Về phía Đông Nam có Hòn Trào và Hòn Chiêng. Hòn Trào (hay Hòn Triều) thường có sóng lớn tràn lên, triều còn có nghĩa là sóng. Hòn Chiêng là một khối đá có hình dạng giống như chiếc chiêng.
Khu vực thứ hai có 4 hòn lẻ, gồm: Hòn Hải, Hòn Đồ Lớn, Hòn Đồ Nhỏ và Hòn Tý. Hòn Hải (còn gọi là Hòn Khám) như một khối đá vuông sắc cạnh, mọc thẳng từ biển lên tựa một khám thờ, cao hơn 100m, cách đảo chính 65km về phía Tây Nam.
Hòn Hải là điểm A6, đường cơ sở để tính lãnh hải Việt Nam, cũng là mũi nhọn xa nhất của đường viền nội thủy Việt Nam ở hướng Đông Nam Biển Đông có tọa độ 9o 58’ vĩ Bắc, 109o 5’ kinh Đông.
Hòn Đồ Lớn (còn gọi là Hòn Bố) cao 60m, cách Hòn Hải 21km về phía Tây, cách đảo lớn 50km về phía Nam. Ngày xưa cứ đến tháng tư, tháng năm Âm lịch hàng năm, chim biển về làm tổ, sinh sản ở Hòn Đồ, người dân trên đảo thường ra lấy trứng chim về sử dụng.
Hòn Tý (hay Hòn Vung) cách Hòn Hải 5km về phía Tây. Hòn Tý có dạng như cái vung nồi đất ngày xưa nên người dân trên đảo thường gọi là Hòn Vung. Theo lời người xưa kể lại thì trước đây người dân đã phát hiện nhiều tiền kẽm tại đây nên hòn này còn được gọi là Hòn Tiền.
Hòn Đồ Nhỏ (hay Hòn Trào) cách Hòn Đồ Lớn khoảng 3km về phía Đông, gồm nhiều ghềnh đá lởm chởm, khi nước ròng (cạn) mới nổi lên, khi nước lớn chỉ thấy nhấp nhô trên mặt biển.
Hòn Tro (còn gọi là Hòn Mới) là một hòn đảo mới hình thành vào năm 1923 do sự phun trào của núi lửa trên biển. Sự rung chuyển, phun trào của núi lửa kéo dài trong gần 1 tháng ở khu vực phía Tây Nam đảo chính để rồi hình thành nên một hòn đảo mới nhô lên khỏi mặt nước chừng vài chục mét và cách bờ khoảng 60km. Hòn này có hình tròn với đường kính khoảng 40m, trên bề mặt có cát trắng và xung quanh là những cạnh đá dạng bậc thang thoai thoải. Sau 3 tháng kể từ ngày có hiện tượng đó, hòn này bị chìm xuống cách mặt nước 33m và hình thành nên một bãi đá ngầm dài 700m, rộng gần 500m, người dân Phú Quý gọi là Rạn Mối.
Lớn nhất trong các hòn lẻ ở Phú Quý là Hòn Tranh, cách đảo chính khoảng 1,5km về phía Đông Nam. Hòn Tranh có dạng như chữ S, diện tích 2,8km2, nơi rộng nhất 400m và nơi dài nhất là 1.200m. Trước kia hòn này là một đảo hoang, cỏ tranh mọc um tùm nên được gọi là Hòn Tranh.
Ngoài những hòn lẻ, Phú Quý còn có nhiều doi, lạch, mũi, bãi như: Vịnh Đá Dù (Lạch Dù), Vịnh Thuế, Vịnh Ký Phủ, Vịnh Đất Cạn ở hướng chính Đông; Bãi Lăng, Vịnh Chà Tre, Vịnh Ông Cò ở hướng chính Tây, Vịnh Ông Lường, Vịnh Chùa (Lạch Chùa), Vịnh Cây Chổi (Lạch Chổi), Bãi Núi, Bãi Nhỏ, Bãi Đá Đỏ ở hướng chính Nam và các doi, lạch khác như: Doi Dừa, Doi Ông Tỉnh, Doi Thầy, Lạch Ông Bền, Mũi Cây Thẻ, Mũi Gành Hang, Mũi Trâu Nằm, Bãi Phủ…
Đảo Phú Quý qua sử sách xưa có nhiều tên gọi như: Cổ Long (Koh Rong), Cù Lao Khoai Xứ, đảo Thuận Tĩnh, đảo Chín Làng, Hòn Lớn, Phú Quý, Cù Lao Thu, Poulo Cecir de Mer và tên gọi nôm na của người địa phương là Hòn…
Nói về tên gọi Cổ Long (Koh Rong), nhiều tư liệu cho biết vào tháng 8 năm 1783, khi bị quân Tây Sơn truy kích, Nguyễn Ánh từ Gia Định phải chạy ra đảo Cổ Long, Cổ Cốt rồi quay về lại Phú Quốc. Quân Tây Sơn vây đánh nhưng lúc đó có bão biển nên sau 7 ngày đêm lênh đênh trên biển, Nguyễn Ánh trốn thoát và chạy ra đảo Thổ Chu cách khá xa đất liền. Truyền thuyết này gắn liền với một số di tích hiện còn ở Bình Thuận và trên đảo như: chùa Bửu Sơn ở Phú Hài, vạn Thạch Long ở Mũi Né (Phan Thiết), chùa Linh Quang và Giếng Gia Long (Giếng Vua) ở Hòn Tranh (Phú Quý)…
Về tên gọi Cù Lao Khoai, tương truyền có một nhóm ngư dân ở các tỉnh miệt ngoài trên đường đi hành nghề lưới chuồn đã phát hiện ra hòn đảo này. Khi rời đảo, họ đã vô tình bỏ lại những gấu khoai. Lần sau có dịp trở lại đảo, họ thấy những gấu khoai kia đã bén rễ và phát triển xanh tốt, cho những củ khoai to ngon nên họ gọi hòn đảo này là xứ Cù Lao Khoai.
Tên gọi Cù Lao Thu xuất phát từ đặc điểm hình dạng của đảo giống như một con cá thu. Có người cho rằng nơi đây xưa kia là một ngư trường tập trung rất nhiều loại cá thu nên ngư dân quen gọi là Hòn Thu. Cù Lao Thu là tên gọi phổ biến vào thời gian sau này. Cư dân Phú Quý quen gọi đảo của mình là Hòn một cách ngắn gọn, mộc mạc, bình dị như chính tính cách con người trên đảo.
Tên gọi đảo Thuận Tĩnh chính thức được nhắc đến trong văn bản dưới đời vua Thiệu Trị năm thứ 1 (1841) khi nói về Phú Quý. Đảo Thuận Tĩnh bấy giờ trực thuộc tổng Phú Quý, huyện Tuy Phong, phủ Ninh Thuận. Đến niên hiệu Thiệu Trị thứ 4 (1844), đảo được đổi tên từ tổng Hạ sang tổng Phú Quý trực thuộc huyện Tuy Phong, phủ Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận.
Giàu tiềm năng du lịch, Phú Quý được thiên nhiên ưu đãi không chỉ về tài nguyên, danh lam thắng cảnh với những bãi biển, những dãy đá san hô, những cụm đá đen, đá gành nhiều màu sắc nhấp nhô trên biển và khí hậu trong lành mát mẻ quanh năm; mà trên đảo còn có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật độc đáo. Bên cạnh đó, con người Phú Quý lại cần cù, chất phác và hiếu khách. Đến du ngoạn Phú Quý, du khách sẽ hài lòng với những thú tiêu khiển như tắm biển, du thuyền, câu cá, leo núi, sưu tầm các loài sinh vật biển...
Từ rất lâu Phú Quý nổi tiếng với các loại hải đặc sản quý hiếm. Năm 1935, thương lái ở Phan Thiết, các tỉnh Trung và Nam bộ đi ghe bầu ra Phú Quý mua cá khô, tôm hùm, các loại ốc... bán sang Cao Miên. Từ thập niên 1990 của thế kỷ 20 với sự nỗ lực của chính quyền, Nhân dân địa phương cùng sự hỗ trợ mạnh mẽ của tỉnh và Trung ương, Phú Quý đã thật sự đổi thay. Nghề đánh bắt hải sản với các phương tiện đánh bắt hiệu quả đã làm tăng thu nhập của người dân. Ngoài sự phát triển của ngành hải sản được coi là kinh tế mũi nhọn, Phú Quý còn được biết đến là một quần đảo có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái biển. Du khách đến đảo Phú Quý sẽ được đón ánh bình minh trên biển cả, cảnh đẹp nơi đây đã làm say mê, hài lòng bao du khách và cũng là nơi khơi nguồn cảm hứng thi ca. Trên đảo có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử chứa đựng các giá trị độc đáo về văn hóa, kiến trúc như: chùa Linh Quang, vạn An Thạnh có tuổi thọ trên 200 năm. Vào tháng 10 năm 1941, một vị cá “Ông” lớn trôi dạt vào đảo; theo tài liệu nghiên cứu của Bảo tàng tỉnh Bình Thuận, thì đây là vị cá voi đầu tiên trôi dạt vào đảo được người dân làm lễ mai táng trọng thể theo tập tục của ngư dân trên đảo, từ đó người dân Triều Dương lấy ngày 15 tháng 10 Âm lịch hàng năm làm ngày giỗ “Ông” và được gọi là ngày giỗ “Vị Cố”. Ngoài đối tượng được thờ phụng chính là cá “Ông”, tại vạn An Thạnh còn thờ phụng Thành hoàng, Tiền hiền, Hậu hiền của làng như một số ngôi đình làng trong đất liền. Gắn với chức năng thờ phụng và thực hiện các nghi lễ liên quan đến cá voi nên tại vạn An Thạnh lưu giữ nhiều bộ hài cốt cá “Ông” trôi dạt vào đảo, trong đó có bộ xương rất lớn cho thấy khi còn sống vị cá “Ông” này có thể dài trên 20m. Với những giá trị về lịch sử, văn hóa tiêu biểu, vạn An Thạnh đã được Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ra Quyết định và cấp Bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1996.
Sự hấp dẫn về tiềm năng du lịch Phú Quý còn phải kể đến quang cảnh đồi núi và các đảo nhỏ xung quanh. Cách cảng 4km về phía Tây là ngọn núi Cấm cao 108m so với mực nước biển, trên đỉnh núi có ngọn đèn hải đăng thuộc loại lớn nhất Việt Nam. Đêm đêm ngọn đèn biển định hướng cho tàu thuyền ngư dân giữa biển khơi đi về đúng hướng, nối liền đảo quê hương với đất mẹ thân thương. Cách núi Cấm chừng 4km về hướng Đông là núi Cao Cát, trên đỉnh núi có ngôi chùa Linh Sơn, từ đây có thể phóng tầm mắt nhìn ra cả vùng biển bao la của Tổ quốc.
Với tiềm năng lợi thế đó, những năm gần đây huyện Phú Quý rất quan tâm đến việc khai thác, phát huy phục vụ du lịch trên đảo. Trước mắt, Phú Quý đang tập trung mọi điều kiện về kết cấu hạ tầng du lịch như: nâng cấp, hoàn chỉnh hệ thống giao thông đến các điểm du lịch; phát triển phương tiện tàu biển, sân bay, bến tàu, hệ thống khách sạn, nhà hàng, tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng, hấp dẫn... mà mục tiêu chung nhất là nhằm đưa Phú Quý trở thành một đặc khu kinh tế du lịch và dịch vụ.
Phú Quý - một huyện đảo xa bờ, là nơi có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế biển và du lịch sinh thái. Hy vọng trong thời gian đến sẽ có nhiều tour du lịch sinh thái từ mọi miền của Tổ quốc đến với Phú Quý và ngày càng có nhiều người biết đến Phú Quý, một hòn đảo giữa biển khơi đẹp thơ mộng, đậm nét hoang sơ và nhiều nơi chưa từng vương dấu chân người.

Address

Thôn Mỹ Khê, Xã Tam Thanh, Huyện Phú Quý
Tỉnh Bình Thuận

Telephone

+84914534744

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Du lịch đảo Phú Quý posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category