Arrow Homestay

Arrow Homestay Arrow homestay là nơi bạn nên ghé đến để nghĩ ngơi nếu như bạn có dịp đặt chân đến du lịch hoặc công tác tại Sài Gòn

có những tiếng rao đúng giờ đến  mức , mỗi khi nghe tiếng rao không cần nhìn đồng hồ cũng biết mấy giờCó những tiếng rao...
16/08/2021

có những tiếng rao đúng giờ đến mức , mỗi khi nghe tiếng rao không cần nhìn đồng hồ cũng biết mấy giờ
Có những tiếng rao hàng , nếu vắng đôi ba hôm đã làm người trong xóm thấy thiếu vắng gì đó .
Có những tiếng rao hàng chỉ vắng vài hôm đã khiến cho những khách hàng quen thuộc lo lắng cho sức khoẻ của người bán.
Có những tiếng rao trong đêm khuya và cũng có những tiếng rao trong những buổi sáng sớm tinh sương

Đã bao lâu rồi Sài Gòn vắng tiếng rao…

bánh chưng bánh giò
Ai xôi hông.....

Hoang Đế Thiệu Trị  (1841-1847)******************Trong số rất nhiều vợ của Minh Mạng, thì bà vợ cả họ Hồ, con gái lớn củ...
29/12/2019

Hoang Đế Thiệu Trị (1841-1847)
******************

Trong số rất nhiều vợ của Minh Mạng, thì bà vợ cả họ Hồ, con gái lớn của công thần Hồ Văn Bôi, quê huyện Bình An, tỉnh Biên Hòa.
Công thần Hồ Văn Bôi đã có công theo phò Gia Long từ buổi đầu , thế nên Gia Long cùng bà Nhị phi cũng đã chọn và cưới con gái của họ Hồ về làm vợ cho Hoàng tử Đởm. Bà là người đoan trang , thận trọng, hiền hòa…nên được Minh Mạng hết lòng tin yêu , phong là "Thuận Đức Thần Phi".

Thuận Đức Thần Phi sinh Hoàng tử D**g được 13 ngày thì mất ,do đó Hoàng tử D**g được các cung nữ nuôi nấng cho đến lớn , Năm Quí Mùi (1832), theo phép đặt tên của "Đế hệ". Hoàng tử D**g có tên mới là Miên Tông , Miên Tông là con trưởng trong số 78 hoàng tử của Minh Mạng nên được nối ngôi , tháng giêng năm Tân Sửu (1841) Miên Tông lên ngôi ở điện Thái Hòa, đặt niên hiệu là Thiệu Trị, vừa đúng 34 tuổi.

Thiệu Trị hiền hòa, không thay đổi các quy chế đã được sắp đặt rất quy cũ từ thời Minh Mạng , Thiệu Trị cứ theo nếp cũ ấy mà giữ lại , răm rắp tuân theo lời di huấn của cha mà làm , bầy tôi cũ từng giúp Minh Mạng thì nay vẫn là tay chân thân thuộc của Thiệu Trị như Trương Đăng Quế, Lê Văn Đức, Doãn Uốn, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Tiếp… nhưng với thời kỳ cầm quyền ngắn ngủi của mình , Thiệu Trị chỉ giải quyết được một số hệ lụy để lại từ thời Minh Mạng

Thứ nhứt là khắc phục hệ lụy của việc "bỏ đê đào sông thoát lũ" ở phía Bắc mà Minh Mạng đã cho làm vào năm Quí Mùi 1883, nó vô hiệu , nên Thiệu Trị tiến hành cho đắp đê ngăn lũ.

Thứ hai là giải quyết vấn đề Chân Lạp , cuối đời Minh Mạng, thành Trấn Tây là mối lo cần giải quyết , các tướng Trương Minh Giảng, Nguyễn Tiến Lâm, Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ… đem quân đánh dẹp mãi không yên ,vì thế ngay năm đầu Thiệu Trị lên ngôi, tướng Tạ Quang Cự tâu xin bỏ đất Chân Lạp, rút quân về giữ An Giang. Vua nghe theo, xuống chiếu bãi binh. Trương Minh Giảng đưa quân về đến An Giang thì mất.
Tháng 6 năm ất Tỵ (1845), Chân Lạp bị Xiêm chiếm đóng, đáp lời cầu viện của Chân Lạp, triều đình lại cử binh sang buộc tướng Xiêm là Chất Tri ký hòa ước rồi hai nước cùng bãi binh. Nguyễn Tri Phương, Doãn Uốn rút quân về đóng ở Trấn Tây. Năm Bính Ngọ (1846), Nặc Ông Đơn sai sứ sang dâng biểu và cống phẩm. Tháng Hai Đinh Mùi (1847) triều đình Nguyễn phong Nặc Ông Đơn là Cao Miên quốc vương , và xuống chiếu cho quân đang trấn giữ ở Trấn Tây rút về An Giang. Từ đó, Chân Lạp lại có vua và phía Tây Nam bắt đầu yên dần.

Thứ ba là quan hệ với phương Tây. Khi Thiệu Trị lên cầm quyền thì việc cấm truyền đạo có nguôi đi ít nhiều. Một số giáo sĩ bị bắt giam từ trước tại Huế, bị kết án tử hình nay được thả tự do

Năm Đinh Mùi (1847) Pháp thương lượng Triều Nguyễn cho tự do tín ngưỡng. Việc còn đang trên bàn thương lượng thì người Pháp dùng đại bác bắn đắm tàu thuyền của người Việt neo đỗ bên cạnh rồi chạy ra bể , trước sự kiện đó, Thiệu Trị vô cùng tức giận, lại tiếp ban sắc dụ cấm người ngoại quốc giảng đạo và trị tội người trong nước đi theo đạo, sự việc còn đang căng thẳng dang dỡ thì tháng 9 năm Đinh Mùi (1847), Thiệu Trị bị bệnh rồi mất, ở ngôi được 7 năm, thọ 41 tuổi, miếu hiệu là Hiếu tổ chương hoàng đế, có 54 người con - 29 hoàng tử và 25 hoàng nữ

Hoàng đế Minh Mạng  (1820 – 1840)Thái tử Đởm sinh ngày 23 tháng giêng năm Tân Hợi (1789), là con thứ tư của vua Gia Long...
28/12/2019

Hoàng đế Minh Mạng (1820 – 1840)

Thái tử Đởm sinh ngày 23 tháng giêng năm Tân Hợi (1789), là con thứ tư của vua Gia Long Tháng giêng năm Canh Thìn (1820),thái tử Đởm lên ngôi vua, đặc quốc hiệu là Đại Nam, niên hiệu là Minh Mạng , khi ấy Minh Mạng 30 tuổi.

Minh Mạng có tư chất thông minh, hiếu học,quyết đoán. Từ khi lên ngôi, ông quản trị mọi việc trong triều , ông "châu phê" mọi việc rồi mới cho thi hành .

Minh Mạng là người ham học hỏi , thường khi tan chầu, Minh mạng cho đòi vài đại thần đến để hỏi các việc kinh lý, phong tục các nước xa lạ , nhiều đêm ông thức coi tấu sớ đến canh hai canh ba mới nghỉ.

Là người tinh thông Nho học, tôn sùng Khổng - Mạnh ,nên Minh Mạng rất quan tâm đến các vấn đề học hành khoa cử, tuyển chọn nhân tài.
Ông cho dựng Quốc Tử giám, đặt chức Tế tửu (người đứng đầu trường quốc học ) và Tư nghiệp( đứng thứ 2 sau tế tửu) năm Nhâm Ngọ (1822) ông cho mở lại thi Hội thi Đình.

Thời Gia Long cứ 6 năm thì có một khoa thi , nay ông chỉ có 3 năm các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, thi Hương; các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi Hội thi Đỉnh.

Minh Mạng còn cho đặt đốc học ở Gia Định thành để thúc đẩy việc học ở Nam bộ . Thời đó, Gia Định chỉ có Trịnh Hoài Đức là có học, được vua rất tin dùng phong làm Hiệp biện Đại học sĩ , Thượng thư bộ lại kiêm Thượng thư bộ Binh , Minh Mạng cũng cho lập Quốc sử quán để biên soạn lịch sử dân tộc và các triều đại.

Trong việc dùng người, Minh Mạng đặc biệt chú trọng đến học thức. Năm Nhâm Ngọ (1822), Lê Văn Liêm được Thự tiền quân Trần Văn Năng tiến cử làm Tri phủ Ninh Giang, bộ Lại đưa vào bệ kiến,vua xét hỏi, Liêm đáp là ít học, Vua nói:

"Tri phủ giữ chính lệnh trong một phủ, không học thì không rõ luật lệ, lỡ khi xử đoán sai lầm thì pháp luật khó dung, như thế là làm hại chứ không phải là yêu" ,thế là Liêm không được bổ dụng

Chế độ lương bổng cho quan lại cũng được quy định khá chi tiết, từ chánh Nhất phẩm đến tòng Cửu phẩm cách nhau 18 bậc , nên lương bổng cũng chênh nhau khoảng 18 đến 20 lần , ngoài ra, tri phủ, tri huyện, tri châu còn có khoản tiền “dưỡng liêm” tùy theo cương vị khác nhau mà được nhiều hay ít.

Minh Mạng đặc biệt quan tâm đến việc phát triển thủy binh , ngay trong những năm đầu lên ngôi , ông đã cho người tìm hiểu cách đóng tàu của Tây Âu và quyết tâm làm cho người Việt tự đóng được tàu theo kiểu Tây Âu , các phương pháp luyện tập thủy binh , khảo sát các ưu khuyết điểm của các vùng biển, hải cảng cũng được chú ý , mỗi năm Minh Mạng cũng phái nhiều tàu vượt biển sang các nước lân cận biển Đông để bán hàng, mua hàng, luyện tập đi biển và xem xét tình hình các nước.

Minh Mạng đã cho hoàn chỉnh hệ thống đê điều ở Bắc bộ, đặt quan khuyến nông, khai hoang ven biển Bắc bộ lập hai huyện mới Kim Sơn và Tiền Hải. Công cuộc khai hoang và thủy lợi ở Nam Bộ cũng được đẩy mạnh. Minh Mạng đã thử nghiệm giải pháp bỏ đê phía Nam Thăng Long, đào sông thoát lũ Cửu An (Hưng Yên)…

Tuy nhiên, dưới thời Minh Mạng vẫn có nhiều cuộc khởi nghĩa xảy ra với các lý do khác nhau như Phan Bá Vành ở đồng bằng Bắc Bộ nổi lên chống quan lại nhũng nhiễu, hà khắc , hay Cựu thần nhà Lê là Lê Duy Cương nổi lên chống lại triều đình , hoặc Các tù trưởng các vùng biên như Hòa Bình, Thanh Hóa nổi lên đòi yêu sách... Buộc Minh Mạng phải cử Trương Minh Giảng, Tạ Quang Cự, Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ cầm quân đi đánh dẹp.

Về đối ngoại, Minh Mệnh đặc biệt chú ý thần phục nhà Thanh. Lễ thụ phong của nhà vua ở thành Thăng Long được tổ chức cực kỳ trọng thể. Ngày 10 tháng 10 năm Tân Tỵ (1821), nhà vua dẫn đầu một đoàn tùy tùng có 1.782 người gồm Hoàng thân, bá quan văn võ và 5.150 lính (tổng cộng 6.932 người) rời Phú Xuân ra Thăng Long để nhận sắc phong của “thiên triều”. Hành trình kéo dài 33 ngày đêm. Đoàn người đông đúc đó phải nằm chờ ở Thăng Long mãi từ khi sứ Thanh đến và xong lễ. Thủ tục đón tiếp và chiêu đãi sứ Thanh diễn ra hết sức chu đáo và long trọng.

Đối với các nước phương Tây, Minh Mạng có chính sách đóng cửa , e ngại và nghi ngờ , chính vì vậy đã kìm hãm sự phát triển của đất nước.

Minh Mạng còn là người được ghi nhớ nhiều bởi phép đặt tên đôi rất độc đáo.Gia Long đã quy định cách viết tộc phả nhà Nguyễn là con cháu Nguyễn Hoàng vào Nam thì chép theo họ "Tôn thất" họ Nguyễn Phúc , con cháu của Nguyễn Hoàng ở Bắc và các chi trước Nguyễn Hoàng ở Thanh Hóa thì thuộc về "Công tính" họ Nguyễn Hựu.
Năm Quí Mùi (1823), Minh Mạng đã nghĩ đến chuyện tránh tranh chấp trong nội bộ hoàng gia, đảm bảo Đế nghiệp lâu dài cho mình và con cháu , Minh Mạng đưa ra đặt tên đôi đối với các Hoàng tử - Hoàng tôn bằng 11 bài thơ, trong đó có bài “Đế hệ thi” và 10 bài “Phiên hệ thi” , mỗi bài 20 chữ, có ý nghĩa tốt dùng làm từ cho 20 đời nối tiếp sau kể từ đời Minh Mạng

“Đế hệ thi” có 20 chữ gồm

Miên - Hường - Ung - Hữu - Vĩnh
Bảo - Quý - Định - Long - Tường.
Hiền - Năng - Kham - Kế - Thuật.
Thế -Thoại - Quốc - Gia - Xương.

Theo bài thơ này thì tất cả con trai Minh Mạng đều phải có từ “Miên” đứng trước và phía sau là tên đặt, đời Minh Mạng các Hoàng tử đều có chữ “Miên” 23 hoàng tử con Minh Mạng được đổi tên chữ Miên đứng đầu
Miên Tông, Miên Định, Miên Nghi, Miên Hoành, Miên An…các đời sau cứ đặt tiếp theo thứ tự các chữ trong bài thơ cho đến hết 20 chữ của bài thơ “đế hệ” .

10 bài “Phiên hệ” cũng theo nguyên tắc trên. Mục đích việc này nhằm chia các hoàng tử vua Gia Long ra làm hai hệ: đế hệ và phiên hệ. Đế hệ được kế thừa đế nghiệp, "phiên hệ" là các Hoàng tộc ,từ khi này mỗi khi hoàng tộc sinh thêm Hoàng tử cứ đủ đầy 100 ngày là làm lễ “bảo kiến” (ẵm đến ra mắt vua) chiếu theo “đế hệ thư” mà cho tên.Triều Nguyễn đã thực hiện bài “đế hệ thư” đến chữ thứ 5 , “Vĩnh” thì bị Việt Minh Vương quyền năm 1945

Minh Mạng có rất nhiều vợ, số chính xác thì chưa thấy có tài liệu nào nói đến, nhưng căn cứ vào câu thơ của Minh Mạng
“Nhất dạ ngũ giao, tam hữu dâng” (một đêm ngủ với năm vợ thì 3 vợ có thai) và theo sử sách, nhân có năm trời làm hạn hán, Minh Mạng cho rằng trong cung có quá nhiều cung nữ khí uất tắc mà nên, Ông bèn cho thả ra 100 người , như vậy số cung nữ thường xuyên trong cung là gấp nhiều lần số 100 người.
Số liệu chính xác về con Minh Mạng là 78 hoàng nam, 64 hoàng nữ, tổng cộng 142 người.

Trị vì 21 năm , tháng 12 năm Canh Tí (1840) Minh Mạng ốm nặng và mất , thọ 55 tuổi.

Triều Nguyễn là triều đại Phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, tồn tại trong suốt 143 năm (1802-1945) với 13 đời vua.Các vua...
26/12/2019

Triều Nguyễn là triều đại Phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, tồn tại trong suốt 143 năm (1802-1945) với 13 đời vua.
Các vua Nguyễn sau khi mất, linh vị được đưa vào thờ tại Thế Miếu. Bên trong miếu, ngoài án thờ vua Gia Long và 2 hoàng hậu đặt ở gian giữa, các án thờ của các vị vua còn lại đều theo nguyên tắc "tả chiêu, hữu mục" để sắp đặt. Tuy nhiên, theo gia pháp của họ Nguyễn, các vị vua bị coi là "xuất đế" và "phế đế" đều không được thờ trong tòa miếu này , do đó, trước năm 1958, bên trong Thế Tổ Miếu chỉ có 7 án thờ , trừ các vua bị phế truất và các vua bị Pháp đày ra khỏi nước.
Riêng vua Dục Đức (phế đế) có Miếu hiệu Cung Tôn Huệ Hoàng đế là do con trai là vua Thành Thái truy phong, nhưng bài vị không được đưa vào thờ tại Thế Miếu. Các vị vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân vào năm 1959 đã được Hội Đồng Nguyễn Phước Tộc làm lễ và đưa bài vị vào thờ tại Thế Miếu

*********

Hoàng đế Gia Long (1802 – 1819)

*************

Nguyễn Ánh lấy lại được Gia Định năm Mậu Thân (1788) tuy đã xưng vương nhưng chưa đặt niên hiệu , vẫn dùng niên hiệu vua Lê. Tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802)sau khí lấy lại được toàn bộ đất đai cũ của các chúa Nguyễn, Nguyễn Vương Phúc Ánh cho lập đàn tế cáo trời đất, thiết triều tại Phú Xuân, đặt niên hiệu Gia Long năm thứ nhất.
Lê Quang Định được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh xin phong vương và đổi tên nước là Nam Việt. Nhà Thanh cho rằng tên nước là Nam Việt sẽ lẫn với nước của Triệu Đà (gồm cả Đông Việt, Tây Việt) nên đổi là Việt Nam. Thế là năm Giáp Tý (1804) án sát Quảng Tây Tề Bồ Sâm được vua Thanh phái sang phong vương cho Gia Long và nước ta có tên là Việt Nam. Năm Bính Dần (1806), Gia Long chính thức làm lễ xưng đế ở điện Thái Hòa và từ đây qui định hàng tháng cứ ngày rằm và mồng một thì thiết đại triều, các ngày 5, 10, 20 và 25 thì thiết tiểu triều.

Gia Long là vua lập ra triều đại nhà Nguyễn, nên Gia Long phải quyết định rất nhiều việc nhằm đặt nền móng cho vương triều có địa bàn thống trị rộng lớn từ Lạng Sơn đến Hà Tiên

Để tránh lộng quyền, ngay từ đầu Gia Long đã bãi bỏ chức vụ Tể tướng , ở triều đình chỉ đặt ra 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công do các Thượng thư đứng đầu và Tả hữu tham tri, Tả hữu thị lang giúp việc. ở trong cung cũng vậy, nhà vua không lập ngôi Hoàng hậu, chỉ có Hoàng phi và các cung tần.

Gia Long cho tổ chức lại các đơn vị hành chính từ trung ương xuống. Cả nước chia làm 23 trấn, 4 doanh.

Từ Ninh Bình trở ra gọi là Bắc Thành gồm 11 trấn (5 nội trấn và 6 ngoại trấn)

Từ Bình Thuận trở vào gọi là Gia Định thành gồm 5 trấn
Ở quãng giữa là các trấn độc lập: Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nghĩa, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận

Đất kinh kỳ đặt 4 doanh

- Trực Lệ Quảng Đức doanh (tức Thừa Thiên),
- Quảng Trị doanh
- Quảng Bình doanh
- Quảng Nam doanh

Cai quản Bắc thành và Gia Định thành có Tổng trấn và Phó tổng trấn. Mỗi trấn có Lưu trấn hay Trấn thư, cai bạ và ký lục. Trấn chia ra phủ, huyện, châu có tri phủ, tri huyện, tri châu đứng đầu. Đây là lần đầu trên một lãnh thổ thống nhất, các tổ chức hành chính được sắp đặt chính quy như vậy.

Quản lý đinh khẩu, ruộng đất và thế khóa áp dụng theo mẫu hình thời Lê sơ nhưng được thực hiện trên quy mô lớn hơn, có quy củ hơn. Đáng chú ý là việc làm sổ ruộng (địa bạ) dưới thời Gia Long được tiến hành nhất loạt, có quy mô toàn quốc. Các làng xã phải lập sổ địa bạ ghi rõ từng loại ruộng đất, diện tích, vị trí, công, tư… chép thành 3 bản nộp lên bộ Hộ. Bộ đóng dấu kiềm, lưu 1 quyển, tỉnh giữ 1, xã giữ 1. Năm năm làm lại địa bạ một lần. Đến nay còn lưu giữ khá đủ toàn bộ địa ba Gia Long của các trấn, doanh cả nước. Trên cơ sở điều tra kê cứu địa chí các địa phương. Cả nước gồm 4 địa hình sông núi, cầu quán, chợ búa, phong tục, thổ sản… năm Bính Dần (1806), vua Gia Long sai biên soạn và ban hành bộ “Nhất thống địa dư chí” gồm 10 quyển.

Năm ất Hợi (1815) bộ “Quốc triều hình luật” gồm 22 quyển với 398 điều luật đã được ban hành.

Công cuộc khai hoang vùng đồng bằng sông Cửu Long được tiếp tục. Nhà nước đã bỏ tiền đào kênh thoát nước Thụy Hà và sông Vĩnh Tế tạo thuận lợi cho việc khẩn hoang. Những công trình lớn như sông Vĩnh Tế huy động sức người, sức của cả dânViệt và Chân Lạp dọc hai bờ có sông chạy qua. Việc trị thủy vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng được Gia Long chú ý ngay từ đầu. Năm Giáp Tý (1804), trên đường ra Bắc làm lễ thụ phong của nhà Thanh, Gia Long cũng nêu vấn đề đắp đê để sĩ phu Bắc Hà bàn luận. Mặc dù chưa nhất trí, nhà vua vẫn quyết định đắp đê. Thời Gia Long khối lượng đê, kè, cống được đắp nhiều nhất so với các triều trước.

Đối ngoại, triều Nguyễn một mặt tranh thủ sự ủng hộ và giữ lễ thần phục nhà Thanh, mặc khác lại tạo quan hệ đàn anh đối với Chân Lạp và Ai Lao. Đối với các nước phương Tây, từ chỗ dựa vào lực lượng của họ để giành thắng lợi chuyển sang lạnh nhạt. Năm Quí Hợi (1803), nước Anh xin mở cửa hàng buôn bán ở Trà Sơn (Quảng Nam) bị nhà vua từ chối. Sĩ quan Pháp đã từng giúp vua được trọng đãi, chầu không phải lạy… Còn yêu sách khác của chính phủ Pháp đều bị khước từ. Năm Đinh Sửu (1817) tàu buôn Pháp tên là “La paix” (hòa bình) chở hàng sang bán nhưng là hàng không hợp thị hiếu người Việt Nam, phải trở về, miễn thuế. Đến khi tàu Cybèle vào Đà Nẵng đưa thư Hoàng đế (1787) (Bá Đa Lộc thay mặt Nguyễn ánh, có khoản Nguyễn ánh nhường cho Pháp cửa biển Đà Nẵng và đảo Côn Lôn). Gia Long kiên quyết bác bỏ viện lý rằng: Điều ước tuy đã ký nhưng thuở đó phía Pháp không thực hiện thì nay không buôn phương Tây song cũng không mời chào, khuyến khích hoặc có một chính sách tỏ ra chủ động, tích cực hơn.

Gia Long có hai vợ chính

Thứ nhất là Thế tổ Thừa Thiên Cao hoàng hậu họ Tống, người huyện Tống Sơn, Thanh Hóa, con gái Quí Quốc công Tống Phúc Khuông. Nguyễn Phúc ánh cưới bà làm vợ năm 18 tuổi, người cung kính, cẩn thận, có phép tắc lễ độ. Bà sinh được hai hoàng tử, con cả là Chiêu chết sớm; con thứ là Hoàng tử Cảnh từng theo Bá Đa Lộc làm con tin sang cầu viện Pháp rồi về nước được lập làm Thái tử, sau bị bệnh đậu mùa mất năm Tân Dậu (1801). Bà thứ hai là Thuận thiên Cao hoàng hậu họ Trần, người huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, con gái Thọ Quốc công Trần Hưng Đạt, được tiến vào hầu Nguyễn ánh từ năm Giáp Ngọ (1774), năm Kỷ Dậu (1789) được tấn phong là Tả cung tần, hiệu Nhị phi. Bà sinh được 4 hoàng tử: Nguyễn Phúc Đởm (sau lên ngôi lấy hiệu là Minh Mệnh); Nguyễn Phúc Đài (Kiến An vương); Nguyễn Phúc Hiệu (mất sớm), Nguyễn Phúc Thấn (Thiệu Hòa quận vương). Ngoài 6 người con với hai vợ chính đã kể trên Gia Long còn 7 người con trai với các bà khác, tổng cộng 13 hoàng tử 18 công chúa.

BỞI  VÌ  CÓ  MỘT  NGƯỜI  CHA  ĐÃ  HỨA .Năm 1989, một trận động đất 8.2 độ Richter gần như san bằng Armenia, làm hơn 30.0...
27/11/2019

BỞI VÌ CÓ MỘT NGƯỜI CHA ĐÃ HỨA .

Năm 1989, một trận động đất 8.2 độ Richter gần như san bằng Armenia, làm hơn 30.000 người chết trong vòng 4 phút.

Trong cơn hỗn loạn, có một người đàn ông dặn vợ mình ở nhà cho an toàn, rồi chạy ào đến trường, nơi con trai của ông đang học.

Ở đó, ông nhìn thấy một đống đổ nát – ngôi trường đã sập hoàn toàn. Ngay lúc đó, người đàn ông nhớ đến lời hứa ông luôn nói với con mình: “Dù thế nào, bố cũng luôn bảo vệ con!”. Và ông bật khóc khi nhìn đống gạch vụn đã từng là trường học.
Rồi ông bắt đầu cố định hướng xem lớp của con mình nằm ở vị trí nào. Góc bên phải phía sau của trường học! Ông lao đến và bắt đầu bới đống gạch đá.

Nhiều vị phụ huynh nhìn thấy người đàn ông làm như vậy, họ vừa khóc vừa kéo ông ra, kêu lên: “Quá muộn rồi!”, “Anh không làm được gì đâu!”, “Về nhà đi!”, hoặc “Chúng ta phải chờ cứu hộ đến thôi!”…

Nhưng để đáp lại những lời đó, người đàn ông chỉ nói đúng một câu: “Giúp tôi một tay!” Và ông vẫn tiếp tục bới đống gạch, cẩn thận quẳng từng viên gạch, từng mảng tường ra ngoài.

Đội cứu hộ đến và họ cũng cố lôi ông ra khỏi đống đổ nát.

– Chúng tôi sẽ lo việc này! Ông về nhà đi!

Nhưng người cha vẫn dọn dẹp từng viên gạch, và chỉ đáp:

– Giúp tôi một tay đi!

Cảnh sát cũng có mặt. Họ khuyên can người đàn ông:

– Anh đang trong trạng thái không ổn định. Anh có thể gây nguy hiểm cho mình và cho người khác, đề nghị anh về nhà!

Nhưng họ cũng chỉ được nghe một câu đáp:

– Giúp tôi một tay!

Một người, rồi nhiều người bắt đầu vào “giúp một tay”. Họ đào bới đống gạch suốt 8 tiếng… 12 tiếng… 24 tiếng… 36 tiếng… Và đến tiếng thứ 38, khi kéo một tảng bê-tông ra, dường như họ nghe thấy tiếng trẻ con.

– Armand à? – Người đàn ông gọi to, giọng nghẹn lại.

Và ông nghe tiếng trả lời:

– Bố phải không? Con ở đây này! Con đang bảo các bạn đừng lo, vì bố sẽ đến cứu con, và cứu cả các bạn nữa! Bố đã hứa bố sẽ luôn bảo vệ con mà…

14 học sinh trong số 33 em ở lớp của Armand được cứu sống hôm đó, vì khi ngôi trường sập xuống, một tảng bê-tông to đã chèn vào tạo thành cái “hang” nhỏ và các em bị kẹt. Armand đã bảo các bạn đừng khóc, bởi vì “bố tớ sẽ đến cứu chúng ta”.

Các em nhỏ hoảng sợ, đói và khát, nhưng đã được cứu sống, bởi vì có một người cha đã hứa

Nguồn : Tri Thức VN

Học thuyết về linh hồn gây xôn xao**********Trong khi nhiều người cho rằng khoa học và tâm linh là hai thế giới đối nghị...
25/11/2019

Học thuyết về linh hồn gây xôn xao
**********

Trong khi nhiều người cho rằng khoa học và tâm linh là hai thế giới đối nghịch, loại trừ nhau thì trên thực tế, có không ít nhà khoa học uy tín tin vào sự tồn tại của linh hồn. Họ còn dùng chính kiến thức khoa học để chứng minh và mô tả nó

Hầu hết các tín ngưỡng, tôn giáo đều cho rằng, ngoài cơ thể, trí óc, con người còn sở hữu một thứ chỉ thuộc về bản thân, đó là linh hồn. Đến nay, khoa học vẫn phủ nhận sự tồn tại của linh hồn, nhưng số học giả có tiếng bảo vệ và cổ vũ ý tưởng về sự tồn tại của nó không hề ít.

Năm 2012, hai nhà khoa học vật lý lừng danh thế giới là tiến sỹ Stuart Hameroff (Mỹ) - Giáo sư danh dự thuộc khoa Gây mê và Tâm lý, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ý thức, Đại học Arizona và Roger Penrose (Anh) - đã gây xôn xao trong cộng đồng khoa học khi phát triển một học thuyết lượng tử về nhận thức. Trong học thuyết này, linh hồn được coi là một phần của cấu trúc mà nhóm nghiên cứu gọi là vi ống - một tổ chức siêu nhỏ trong tế bào não.

Ý tưởng này bắt nguồn từ ý niệm rằng não là một máy tính sinh học với hàng tỷ neuron; kết nối sợi trục, khớp nối thần kinh hoạt động như một hệ thống thông tin hoàn chỉnh.

Theo học thuyết được các nhà khoa học Stuart Hameroff và Roger Penrose bắt đầu nghiên cứu từ năm 1996 này thì ý thức là kết quả của quá trình hấp dẫn lượng tử bên trong vi ống. Điều này được thể hiện rõ khi con người trải nghiệm trạng thái chết lâm sàng. Khi đó, các vi ống mất trạng thái lượng tử, nhưng thông tin chứa trong nó thì không hề bị phá hủy. Hai tiến sỹ cho rằng, linh hồn không hề chết đi mà chỉ đi vào vũ trụ.

"Khi trái tim ngừng đập, máu ngừng chảy, các vi ống mất đi trạng thái lượng tử, tuy nhiên thông tin trong vi ống không và không thể mất đi. Nó chỉ phân phối và tiêu tán vào vũ trụ. Khi bệnh nhân tỉnh lại, hồi sinh, các thông tin lượng tử này có thể quay lại các vi ống. Nếu họ chết, các thông tin lượng tử có thể tồn tại ngoài cơ thể - dưới dạng một linh hồn" - tiến sỹ Hameroff cho hay.

Niềm tin của các nhà khoa học
Trước, trong và sau khi học thuyết lượng tử về nhận thức ra đời, rất nhiều nhà khoa học tin vào thực tế là linh hồn tồn tại.

Richard Swinburne - nhà triết học tôn giáo của Trường Đại học Oxford, Anh, tác giả của cuốn sách "Lý trí, bộ não và sự tự do của ý chí" - đã lên tiếng bảo vệ sự tồn tại của linh hồn: "Để miêu tả toàn bộ thế giới này, bạn cần kể tới cả chủ thể của các trải nghiệm, không chỉ qua những trải nghiệm, qua cơ thể vật lý mà còn qua những vật thể tinh thần riêng rẽ mà chúng ta gọi là linh hồn. Bởi nếu không, bạn sẽ không thể mô tả được đời sống ý thức của họ ra sao".

Theo Swinburne, nếu chỉ có cơ thể và trí não, chúng ta sẽ chỉ là những chủ thể giống nhau. Tuy nhiên trên thực tế, chúng ta hoàn toàn khác nhau, nên chắc hẳn phải có một phần quan trọng nào đó tạo ra sự rạch ròi và chúng ta có thể gọi đó là "linh hồn của tôi".

"Linh hồn có thể không tự vận hành mà phải liên kết với một cơ thể. Khi đó, sự sống có thể tiếp diễn nếu như linh hồn nhập được vào cơ thể nào đó một lần nữa" - ông nói. "Sự khác biệt giữa các linh hồn là không thể giải thích. Linh hồn là đặc thù phi vật chất. Nó có tính cách, đặc tính của riêng mình. Linh hồn cũng sở hữu suy nghĩ, cảm xúc, thái độ... Cách duy nhất để chúng thể hiện ra là thông qua sự gắn kết với cơ thể sống".

Nhà vật lý học lý thuyết Henry Stapp - Đại học California - Berkeley, Mỹ nói: "Niềm tin vào linh hồn không phải là không có căn cứ khoa học. Linh hồn là sự độc lập về nhân cách của trí não hay phần sống sót còn lại của cơ thể sau khi chết".

Còn Giáo sư, tiến sỹ Hans-Peter Dür - nguyên Giám đốc Viện Vật lý Max Planck, Munich, Đức - cho rằng: "Sự tồn tại song song giữa cơ thể và linh hồn cũng chân thực như sự tồn tại song song của sóng và hạt vật chất nhỏ nhất".

Theo vị giáo sư này, trạng thái lượng tử của vũ trụ tồn tại ở cả vật thể sống và chết, dẫn tới sự tồn tại sau khi chết. "Chúng ta mới chỉ nhìn thấy khía cạnh vật chất của thế giới này. Thứ tạo ra thế giới nằm ở ngoài khía cạnh vật chất và nó lớn hơn rất nhiều so với thế giới này. Theo cách này, cuộc sống hiện tại của chúng ta đang được bao bọc bởi cuộc sống sau khi ta chết".

"Sẽ thật là sai lầm nếu chúng ta loại bỏ linh hồn khỏi tự nhiên" - nhà vật lý hạt nhân đồng thời là nhà sinh học phân tử Jeremy Hayward - thuộc Đại học Cambridge, Anh - cho hay.

Nhà vật lý và là giáo sỹ John Polkinghorne định nghĩa linh hồn là phần mang thông tin bên trong hạt nhân. Phần linh hồn này sẽ không bị thối rữa khi chúng ta chết mà "sẽ được Chúa dùng để tái sinh".

Nguồn : Khoahoc.tv

Người Nam Kỳ không lập gia phảĐó là một câu khẳng định chắc như cây đinh đóng cái cột nhà.Gia phả là gì ?Gia phả hoặc gi...
22/11/2019

Người Nam Kỳ không lập gia phả
Đó là một câu khẳng định chắc như cây đinh đóng cái cột nhà.
Gia phả là gì ?
Gia phả hoặc gia phổ là phả hệ của một dòng họ, gia đình, là cuốn sách chép tên ông bà tổ tiên, con cháu của một dòng tộc nào đó.
Người Bắc Kỳ xưa rày ta nghe tới là thói "lũy tre làng", có gia phả, có dòng tộc nghiêm ngặc, có trưởng tộc, có nhà thờ tổ, mả tổ, thủy tổ và những quy định ná thở với con cháu. Nhưng với dân Nam thì không có, hoặc có hời hợt, hình thức.

Dân Nam Kỳ có câu cười Bắc Kỳ là "Tổ tiên đại bác thụt chưa tới".
Chúng ta biết tổ tiên khai phá dựng lên Nam Kỳ Lục Tỉnh là dân khai hoang, kêu là lưu dân.

Lưu dân là dân phiêu lưu, dân đi xa, dân bỏ làng quê gốc mà ra đi.
Đó là người Ngũ Quảng : Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (Huế), Quảng Nam, Quảng Ngãi hiệp cùng người Minh Hương, đồng hóa người Khmer, người bổn địa Stieng... mà trộn ra dân Nam Kỳ ngày nay.
Đó là dân nghèo rách nát, dân bị lưu đày, bị truy nã, bị làng ruồng bỏ, gái chửa hoang, học trò thất chí, quan bị biếm chức, người thích phiêu lưu, giang hồ lãng tử...
"Tới Cà Mau - Rạch Giá
Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mù như sương
Thân không là lính thú
Sao chưa về cố hương?"(Sơn Nam)

Xa hơn dân Ngũ Quảng là những người ở mạn Bắc di cư theo chúa Nguyễn Hoàng vô Trung Kỳ mà Phạm Duy tả là " Gió tiễn người về đến quê hương câu ca giọng Hời."
"Mộng ngoài biên giới mơ hồ
Chẳng ngăn được sóng vỡ bờ
Với đêm mờ hồn về trên Tháp ma"

Rồi thời chúa Nguyễn, lưu dân Việt từ Ngũ Quảng theo bà Ngọc Vạn vô Mô Xoài, Đồng Nai :
"Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định Đồng Nai thì về"

Gia Định là nơi đô hội, trù phú nhứt Nam Kỳ, có nghĩa là định cư nơi an ổn, phước lớn.

Là những lưu dân tạo ra hợp chúng quốc Nam Kỳ, ông bà chúng ta tạo ra một nền văn hóa đặc trưng riêng của Nam Kỳ mà nhìn lại có phần khác ngoài Trung, đối lập với ngoài Bắc.

Thí dụ Bắc ăn bánh chưng cắt 8 miếng hình trụ nhọn,Nam Kỳ ăn bánh tét -tét ra khoanh tròn, Bắc Kỳ uống trà kêu uống chè, Nam Kỳ kêu trà.

Văn hóa Bắc là lũy tre làng bốn góc chôn chặc cái làng ở giữa, làng nào sống kiểu làng đó, cấm giao lưu trai gái, có hương ước ngặc nghèo, có thầy Lý hắc cám, có con Thị Màu lẳng lơ, có chị Dậu bế tắc, có những người con gái chửa hoang bị cạo đầu bôi vôi thả bè chuối trôi sông.

Nam Kỳ khác Bắc phần nhiều

Nam sống mở, làng của Nam dựa vô mé sông, giao lưu với làng khác bằng ghe xuồng, bằng những con lộ,người Nam luôn mời khách xa xôi vô ở chung, giúp đỡ nhau cùng an cư vui vẻ, gái làng thích lấy trai xa xứ và thương chồng đứt ruột đứt gan vì cái quá khứ "trôi sông lạc chợ" đó.
"Rồng chầu ngoài Huế ngựa tế Đồng Nai
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài
Thương người quân tử lạc loài tới đây,
Tới đây thì ở lại đây
Bao giờ bén rễ xanh cây sẽ về"

Gái Nam Kỳ chịu chơi, dám theo người mình yêu, dám nhận hậu quả do tình yêu đó đem lại.
"Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam
Ví dầu tình có dở dang
Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp dzìa"

Ông bà tổ tiên Nam Kỳ mình quá hãi hùng ở đất Bắc hắc ám nên vô Nam bỏ tục gần hết.
Họ không muốn con cháu họ phải sống cái cảnh mõ làng rùng rợn phiên xử "hương ước" ở đình làng như ngoài Bắc.

Làng xóm Nam Kỳ không có hương ước, lệ làng, làng Nam Kỳ là làng mở, nhưng có những luật bất thành văn, mọi người phải tôn trọng, làng Nam Kỳ tuân luật triều đình, tôn trọng quan chủ quận, tri huyện.

Thành ra gái Nam thất tiết thì bị gia đình xử bằng cách đuổi ra khỏi nhà, nhưng đuổi là thủ tục thôi vì lén nhét tiền của cho nó đi trốn khuất mắt một thời gian, hoặc đày nó xuống nhà sau cấm ló mặt lên nhà trước trong một hai năm, hoặc ra vườn sau cất nhà mà ở. Hết thời gian đó cô gái sống lại bình thường, con cháu máu mủ mình mà.

Nên ai làm phim làm cạo đầu bôi vôi, thả bè chuối trôi sông, thả rọ heo xuống sống, quăng người xuống giếng là không hiểu gì về văn hóa Nam Kỳ. Tổ tiên Nam Kỳ chúng tôi chưa bao giờ có ý nghĩ đó trong đầu với con cháu mình.

Người Nam Kỳ không lập gia phả, vì sao ?
Đừng bao giờ nói người Nam Kỳ là lưu dân dốt không biết chữ mà không lập gia phả.

Các bạn nghiên cứu thấy rằng Nho giáo Bắc Kỳ là đầu môi chót lưỡi, tức thể hiện bằng cái miệng, Nho giáo Nam Kỳ thể hiện bằng cách sống.

Có ai đó nói “Người Bắc cao đạo một cách ngây ngô còn người Nam thì thực tế một cách trần trụi".
Cái chữ trần trụi hơi quá,nhưng những quy tắc bất thành văn ở Nam Kỳ nó vô hình dữ lắm nha, thí dụ dân Nam Kỳ mời bạn ăn cơm, mà bạn ăn hỗn trong mâm cơm quá, họ không nói, nhưng lần sau sẽ không mời. Người Nam Kỳ luôn để khách tự giác và không nhắc.

Trong làng Nam Kỳ vẫn có người biết chữ Nho, sau là chữ Quốc Ngữ, nên biết chữ Quốc Ngữ được dạy ở Nam Kỳ đầu tiên.

Nhìn đền chùa, miếu mạo Nam Kỳ xưa đi, hoành phi câu đối rất nhiều, đó là bằng chứng.

Không viết gia phả vì thấy không cần thiết. Một xã hội mở thì không cần gia phả.
Xưa đất rộng người thưa, con cháu đi tứ tán, ở nhà toàn nhờ láng giếng gần đó, có câu "Bán họ hàng xa mua láng giềng gần".

Là dân gốc lưu dân, dân Nam muốn xóa bỏ quá khứ hãi hùng từ Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Cách xưng hô “anh Cả” ở Bắc so với “anh Hai” ở Nam là điển hình.
Rất nhiều người đặt câu hỏi tại sao người Nam gọi “anh Cả”, “chị Cả” (người con trưởng, theo cách gọi miền Bắc) là “anh Hai”, “chị Hai”.

Nhiều người giải thích rằng thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng dân ở Bắc vào khai phá vùng đất Phương Nam, rằng trong đoàn quân Nam tiến lúc đó, hầu như không có ai là “anh Cả”, vì đi mở cõi thì nguy hiểm, theo tục Bắc phải để người con trưởng ở lại để phụng dưỡng cha mẹ và chăm sóc mộ phần tổ tiên; những người ra đi đều là con thứ.

Nói vậy không trúng.

Có những gia đình họ ôm cả nhà cả dòng họ của họ vô Nam kìa.
Chuyện anh hai ở Nam Kỳ là chuyện đặc trưng, không thể giải thích là ông cả cọp gì đó mà sợ nên Nam Kỳ tránh "Anh Cả", vậy chứ ông Hương Cả thì sao ? Nam Kỳ có Hương Cả trong ban hội tề

Đơn giản người Nam cố tình làm cho khác Bắc Kỳ khi bỏ cả, chỉ gọi người lớn là anh hai, chị hai.

Bỏ chữ cả là một dạng dứt áo, cắt đứt với hương ước, lũy tre làng, với họ tộc kinh hoàng kiểu Bắc Kỳ.

Ông Hương Cả trong Nam đâu có quyền hành gì, chỉ tượng trưng, và là cả duy nhứt trong Nam, có lẽ là một chút hoài vọng.

Người Bắc thừa tự là con trưởng, nhưng thừa tự, cúng kiếng trong Nam là con trai út, Nam Kỳ rất thực tế, thằng út lúc nào cũng trẻ trung, nó sẽ gánh vác gia đình ở mức hăng hái, thằng hai thì già chát, nhỏ hơn cha mẹ không nhiều gánh gì nổi.

Câu "Giàu út ăn nghèo út chịu" cũng của Nam Kỳ đưa ra.

Thằng út giữ hương hỏa trong nhà, nhưng vẫn không hạ bệ thằng anh hai nha.

Bằng chứng là trong những ngày giỗ chạp, cúng kiếng tổ tiên, đám cưới thì ông anh hai vẫn đứng ra tế lễ, thằng út đứng sau lưng anh hai.

Trong họ tộc thì người thứ hai vẫn mang tiếng người đứng đầu, đám cưới thưa gửi là ông bác hai hết thảy, ông này chết thì ông bác ba lên thế.

Nhưng anh hai làm lễ thôi, anh hai không có quyền xen vô chuyện cúng kiếng của thằng út như cúng lớn, cúng nhỏ, cúng ra làm sao. Nam Kỳ chia quyền hết là ở đây.

Ngày nay Nam Kỳ thực tế luôn ở kiểu chia bàn thờ, anh hai giỗ cha, út giỗ mẹ, tới ngày tụ lại hai nhà vui vẻ.

Không gia phả, không họ tộc, không có khái niệm nhà thờ tổ, nhưng Nam Kỳ mặc định nhà thằng Út là nhà thờ tổ, tức là nhà nào mà cha mẹ, ông bà chết và thờ là nhà tổ.

Ông nào giữ hương hỏa có nghĩa vụ làm đám giỗ, không có quyền chỉ trỏ, ra lịnh này nọ nghĩa vụ với con cháu như tộc trưởng ngoài Bắc.

Con cháu trong Nam sướng là vậy, cứ về ăn đám giỗ, giàu mua đồ nhiều, nghèo mua đồ ít, không ai dám nói.

Với bản chất trọng người sống, kỉnh người chết ở mức tượng trưng, việc cúng kiếng Nam Kỳ cũng khác Bắc Kỳ.
Thường giữa nhà người Nam đặt cái bàn thờ “ Cửu Huyền Thất Tổ" tức "7 đời tổ tiên trên chín tầng trời".
Nhưng thực ra người miền Nam cúng giỗ chỉ 3 đời tới ông cố bà cố thôi, hết 3 hoặc 4 đời là không cúng kiếng gì nữa.

Có câu “ Ngũ đại mai thần chủ" (Đến 5 đời thì chôn thần chủ), tức đem bài vị chôn hoặc đốt, nhập lại làm một gọi là "Cửu huyền thất tổ' và giỗ chung tượng trưng.
"Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ
Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha"

Cái đình Nam Kỳ rất chan hòa, vui vẻ, là nơi dân làng tụ hợp lại cúng thành hoàng rồi ăn uống vui chơi, coi hát bội, nó như một cái sân khấu.
Gánh hát về đình là niềm vui bất tận của người Nam Kỳ.
Nam Kỳ không có thằng mõ tay chưn của lý trưởng ,không có cảnh phạt vạ kiểu Thị Màu.

Trong cái làng Nam Kỳ có nhà việc là chỗ làm việc của làng, tra án ở đó, không mang vô đình như Bắc Kỳ.
Coi 'Con nhà nghèo', bà Cai Hiếu đòi đóng gông Ba Cam thì Hương Quản đáp lại "Tôi đang tra án nó, mà thủa nay làng tôi có gông đâu mà đóng".

Là gốc lưu dân, không viết gia phả, không lập họ tộc, không lập lũy tre làng, không có ông lý trưởng hét ra lửa

Để ý coi đi trong đám giỗ Nam Kỳ luôn cúng một mâm ngoài sân nhà, đó là mâm cúng lề, cúng những người khai hoang bỏ mình hồi xưa, sau 1975 CS kêu "mâm chiến sĩ".

Tất cả các miếu, am, và bàn thông thiên Nam Kỳ đều có cúng mấy hủ muối, gạo và nước, có nơi cúng bó củi.
Đó là cúng tổ tiên gốc lưu dân của mình hồi xưa.

Người Nam Kỳ cúng lề, cúng đất, cúng cô hồn.
Cúng tổ tiên Nam Kỳ chung là ngày 25 tháng Chạp, khi con cháu tụ về dẫy mả, tảo mộ, họ sẽ làm mâm cơm cúng ở nhà, thường là nấu cháo gà cháo vịt.

Tục thờ ông bà ở Nam Kỳ rất đơn giản, chỉ ba bốn đời, nhưng không được bỏ bàn thờ tổ tiên.
Đồ Chiểu chửi rằng "Sống làm chi theo quân tả đạo-Quăng vùa hương đạp bàn độc thấy lại thêm buồn".

Xưa Nam Kỳ có cái bàn thờ và giường thờ.
Người Pháp qua, đem qua Nam Kỳ cái tủ chén đứng kiểu thời Louis XVI, không cao không thấp, trước tiên là ở xứ Thủ Dầu Một, sau thợ Gò Công sáng tạo đóng cái tủ thờ dựa trên nguyên lý ráp mộng đi khung của tủ kiểu Pháp, nhưng cải tiến theo phong tục Nam.

Từ đó cái tủ thờ này là đặc trưng Nam Kỳ Lục Tỉnh, hiệp cùng tranh kiếng nữa, ra cái hồn tổ tiên Nam kỳ mình.

Trong "Gia Định thành thông chí" của Trịnh Hoài Đức có đoạn :
"Vùng Gia Định... đất đai rộng, lương thực nhiều, không lo đói rét, nên dân ưa sống xa hoa, ít chịu súc tích, quen thói bốc rời. Người tứ xứ. Nhà nào tục nấy… Gia Định có vị trí nam phương dương minh, nên người khí tiết trung dũng, trong nghĩa khinh tài…"

Đó là tánh hiếu khách, hào phóng, không câu nệ hình thức, sống thực dụng.

Dân Nam Kỳ hay đờn ca xướng hát, làm ra đờn ca tài tử và cải lương vang danh, hệ thống bài lý nhiều nhứt Việt Nam.

Người Nam Kỳ trọng tôn giáo, nhưng kiểu của họ.
Đạo Phật vô Nam biến thể, phải trộn với tín ngưỡng dân gian. Dân Nam Kỳ không phải là những tín đồ Phật giáo thuần thành.
Các phái Phật trong Nam đều là biến thể, chùa trong Nam không lớn.
Công giáo trong Nam Kỳ xưa khác ngoài Bắc, Nam không có các giáo xứ, người Công giáo Nam Kỳ hòa nhập, thế tục. Người Công giáo Nam Kỳ luôn ít hơn Công giáo Bắc Kỳ

Sông rạch và đồng bằng tạo cho dân Nam Kỳ tánh khẳng khái, bộc trực, ít chịu cúi lòn, kém thủ đoạn trong chánh trị, nhưng tràn trề tình thương,biết nhìn người khác, biết cúi mình xuống tha thiết với Quốc Gia.
Dân Nam Kỳ không những nói ngay mà hay nói lớn tiếng, thiếu trau chuốt, đôi lúc bổ bả.
Không lập gia phả, nhưng con cháu sống làm sao phải ra dáng con người, sống không làm tủi nhục tổ tiên, sống thẳng, sống có ích, sống không để tiếng nhơ cho tổ tiên, dòng họ.

Người Nam Kỳ dạy con cháu cũng theo kiểu mở.
Biên cái tục này là để răn mình.
Biết cái hay cái tệ của mình để nhìn lại bản thân mình.
Và tính cho ra cách thức tồn tại của xứ sở mình trước thời cuộc.

—nguồn Nguyễn Gia Việt

Address

196/15 De Tham Street
Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Arrow Homestay posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share