Huế EZ

Huế EZ - Chia sẻ kinh nghiệm du lịch Huế tự túc hoặc cùng hướng dẫn viên bản địa.

Sông Hương và những câu cầu ở xứ HuếTiếp tục chuyên mục khám phá Huế cùng  , hôm nay chúng ta sẽ khám phá tiếp dòng sông...
02/08/2022

Sông Hương và những câu cầu ở xứ Huế
Tiếp tục chuyên mục khám phá Huế cùng , hôm nay chúng ta sẽ khám phá tiếp dòng sông Hương thơ mộng và những cây cầu nổi bật ở xứ Huế nhé
---------------------------
# Sông Hương:
a. Giải thích tên: Người Huế có nhiều cách giải thích vì sao dòng sông có tên là sông Hương, cũng có nhiều sử liệu ghi chép cẩn thận, đi ngược lên thượng nguồn còn phát hiện loài cỏ Thạch Xương Bồ có hoa thơm hòa vào nước sông, thậm chí có nhiều huyền thoại về mùi thơm của nước sông. Nhưng có “một huyền thoại vọng về từ làng Thành Trung, một ngôi làng trồng rau thơm ở Huế: Vì yêu quý con sông xinh đẹp, người dân hai bên bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước xanh thắm ấy mãi mãi thơm tho".
b. Sông Hương bắt nguồn từ 2 nhánh sông Tả Trạch và Hữu Trạch đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, 2 dòng này hợp lại tại ngã ba Bằng Lãng (gần lăng Minh Mạng) để tạo ra dòng sông Hương thơ mộng. Từ ngã ba Bằng Lãng đến cửa biển Thuận An với chiều dài khoảng 33km
c. Những tên gọi khác: Trước đây sông Hương còn có rất nhiều tên nhưu Sông Linh Giang, sông Lô Dung, sông Hương Trà, sông Kim Trà sông Yên Lục...
Tiếp đên hãy theo chân # Huế EZ khám phá những cây cầu đẹp ở xứ Huế nhé
1. Cầu Tràng Tiền: là một cây cầu biểu tượng của xứ kinh kỳ. Cầu Trường Tiền là chiếc cầu dài 402,60m, gồm 6 nhịp dầm thép hình vành lược, khẩu độ mỗi nhịp 67m, khổ cầu 6m, được thiết kế theo kiến trúc Gothic, bắc qua sông Hương. Đầu cầu phía bắc thuộc phường Đông Ba, đầu cầu phía nam thuộc phường Phú Hội tại trung tâm thành phố Huế. Đây là cây cầu nổi tiếng nhất bắc qua Sông Hương, đã đi vào thơ ca nhạc họa, trở thành điểm đến bất thành văn cho những ai có dịp ghé Huế.
2. Cầu Phú Xuân, dân địa phường thường gọi là cầu Mới.
Cầu Phú Xuân (thường được gọi là Cầu Mới) được xây dựng vào năm 1970 do hãng Eiffel của Pháp thiết kế và tổ chức thi công, sau 2 năm thì hoàn thành và đưa vào sử dụng. Cầu dài 374,65m, rộng 17m, riêng lòng cầu rộng 12m; tải trọng của cầu là 18 tấn. Hai bên cầu đều có lề dành cho người đi bộ và có xây lan can để đảm bảo an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông. Từ 1971 đến nay, cầu Phú Xuân được tu bổ thêm vào năm 1998 và năm 2009. Lúc mới xây xong (1971), cầu được đặt tên theo tên dòng sông mà nó bắc qua, cầu Sông Hương. Sau năm 1975, nó được chính quyền đổi tên là cầu Phú Xuân.
3. Cầu Dã Viên
Cầu Dã Viên là cầu đường bộ bắc qua sông Hương nối từ đường Lê Duẩn (Quốc lộ 1A) sang đường Bùi Thị Xuân và kết nối với hệ thống các trục đường quy hoạch khu vực phía Nam thành phố Huế.
Vào năm 1908, khi chiếc cầu bằng sắt bắc qua sông Hương được xây dựng xong và bắt đầu hoạt động để nối tuyến tàu hỏa Bắc – Nam, thì nó được đặt tên là cầu Dã Viên, vì phần giữa của đoạn đường sắt ở đây đã được xây dựng ngay trên mặt đất của cồn Dã Viên. Nhưng, vì đầu phía bắc của cầu này nằm quá gần cầu Bạch Hổ cũ (nay gọi là cầu Kim Long), cho nên người dân Huế thường gọi nhầm là cầu Bạch Hổ.
Năm 2010, cầu đi bộ này được đầu tư xây dựng lại với mức kinh phí 730 tỷ đồng và được lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân về tên cầu. Ngày 10/12/2012, tại Kỳ họp thứ V, Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế khoá VI đã biểu quyết thông qua tên cho cầu đường bộ qua sông Hương là Cầu Dã Viên. Đây là một công trình hoành tráng, có ý nghĩa quan trọng trong thời kỳ đổi mới của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đến nay, đây là cây cầu lớn nhất bắc qua Sông Hương, không chỉ nhằm giảm ùn tắc giao thông cho hai cầu Phú Xuân và Trường Tiền, cầu Dã Viên còn là điểm thưởng ngoại sông Hương cho nhân dân và du khách.
4. Cầu Đập Đá
Cầu Đập Đá được xây dựng từ năm 1917 dưới thời Pháp thuộc. Lúc bấy giờ, Đập Đá có vai trò quan trọng trong việc giao thông nối Vỹ Dạ với thành phố Huế và ngăn xâm nhập mặn vào sông Hương lúc mùa hè, ngăn nước từ thượng nguồn sông Hương đổ về trong mùa mưa để hạn chế lũ lụt. Đập Đá hiện nằm giữa hai con đường Lê Lợi (phường Phú Hội) và Nguyễn Sinh Cung (phường Vỹ Dạ, TP.Huế). Vài năm về trước, tỉnh Thừa Thiên Huế hoàn thành công trình đập thủy lợi Thảo Long ở hạ lưu sông Hương nên chức năng ngăn mặn của Đập Đá không còn. Năm 2015, cầu Đập Đá được đầu tư, mở rộng và lắp cống ngầm nhằm cải thiện môi trường và chất lượng nước, bổ sung nguồn nước tưới nông nghiệp cho sông Như Ý, tăng cường thoát lũ cho hệ thống sông vùng nam sông Hương.
5. Cầu gỗ lim
Nhằm phát huy giá trị cảnh quan, không gian đô thị, môi trường và văn hóa lịch sử sông Hương để phát triển cân bằng giữa bảo tồn và phát triển đô thị Huế bền vững, hiện đại, trở thành một thành phố văn hoá – du lịch, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cũng đã hợp tác với tổ chức hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) để xây dựng Cây cầu Gỗ lim chạy dọc sông Hương. Đây là cây cầu chỉ dành cho người đi bộ, rộng 4m dọc sông Hương, với diện tích 2.443 m2, được lát bằng gỗ lim dày 5cm. Tổng kinh phí cho công trình là gần 53 tỉ đồng, trong đó phần gỗ lim hơn 5 tỉ.
6. Cầu bán nguyệt
Từ đầu năm 2020, chính quyền thành phố Huế đã triển khai dự án làm đường đi bộ hai bên bờ sông Hương với mục đích tạo không gian công cộng tốt hơn cho người dân. Công trình cầu bán nguyệt ở khu vực Bến Me, phường Phú Thuận, bờ Bắc sông Hương được xây dựng, trở thành điểm check-in của giới trẻ Huế và du khách nhiều nơi đến tham quan, ngắm cảnh, đi bộ, tập thể dục hàng ngày.
Giống như tên gọi, cầu có hình bán nguyệt (nửa hình tròn), không có lan can. Sở hữu điểm view “không góc chết”, cùng với Đồi Vọng Cảnh, cầu bán nguyệt chính là điểm chụp ảnh, ngắm hoàng hôn đẹp nhất ở Huế tính đến thời điểm hiện nay.
-----Thuê xe, đặt phòng, hướng dẫn viên-----
Vui lòng liên hệ sđt/zalo: 0788.235.777 hoặc https://m.me/HueEZ

Copyright: Trong bài viết ad có sử dụng rất nhiều nguồn tham khảo trên internet. Nếu có bất kỳ vấn đề gì liên quan đến nội dung hình ảnh, vui lòng ib ad ạ. Cảm ơn mn đã xem

Nếu như Hà Nội có cầu Long Biên là chứng nhân lịch sử, còn Đà Nẵng có cầu quay Sông Hàn là biểu tượng. Thì  nhắc đến Huế...
01/08/2022

Nếu như Hà Nội có cầu Long Biên là chứng nhân lịch sử, còn Đà Nẵng có cầu quay Sông Hàn là biểu tượng. Thì nhắc đến Huế người ta sẽ nghĩ ngay đến cây cầu Trường Tiền (dàu 402.6m)
Với tuổi đời gần 120 năm và đã chứng biết nbao thăng trầm lịch sử của vùng đất xứ Kinh kỳ xưa. Từ thở ban đầu cây cầu sắt này đã là một biểu tượng đẹp khó thay thế của vùng đất Cố đô.
Hôm nay sẽ đưa mọi người cùng tìm hiểu về lịch sử của cây cầu này nhé. Gét gô
Năm 1896 , vua Thành Thái vị vua thứ 10 của Triều Nguyễn đã đặt viên đá đầu tiên xây dựng cây cầu nổi tiếng này. 1897 vua Thành Thái đã bàn với toàn quyền Russo của Pháp, xây dựng cây cầu sắt với thiết kế Phương Tây, ước tính khoảng 190 ngàn đồng Đông Dương (một số tiền rất lớn). Và sau đó một năm, người Pháp đã chọn một bản thiết kế ngang 5m2, những đến một năm sau tức 1898 toàn quyền mới thay thế ông Russo đã đưa ra đề nghị mới, ngoài 190 ngàn đồng Triều ĐÌnh bỏ ra thì tất cả những chi phí phát sinh còn lại người Pháp sẽ hỗ trợ.
Đây cũng là cấy cầu đầu tiên ở Đông Dương được xây dựng theo kỹ thuật và vật liệu của người phương Tây, do kiến trúc sư nổi tiêng Gustave Eiffel thiết kế và thi công.
Tháng 5 1899 cây cầu được khởi công đến 18/12/ 1900 cây cầu được khánh thành và đặt tên là cầu Thành Thái. Cơ bản cầu có 6 vài, mỗi vài dài 66,66 mét. Mặt cầu rộng 4.5 m và có hai lề đường hai bên, mỗi bên rộng 0,75m.
Năm 1907 Sau này khi vua Thành Thái bị phế truất thì đến năm 1909 cây cầu cũng đc người Pháp đổi tền là Clemanceau (Thủ tướng Pháp lúc bấy giờ và người đưa nước Pháp thắng lợi trong thế chiến thứ 1). Sau đảo chính 3/ 1945, Chính phú Trần Trọng Kim đổi tên cầu là cầu Nguyễn Hoàng. Sau năm 1975: Cầu có tên chính thức là cầu Trường Tiền (Tràng Tiền). Đây là cái tên dân gian quen gọi do thời trước, phía tả ngạn của cầu có xưởng đúc tiền của triều Nguyễn. Từ năm 1995 đến nay: Sau một lần trùng tu, sửa chữa, đơn vị thi công đã tự ý đổi tên Trường Tiền thành Tràng Tiền và gắn bảng tên cầu Tràng Tiền ở phía đầu cầu. 2002 thì được gắn đèn led đổi màu lung linh.
Kể từ khi được xây dựng cho đến nay cây cầu Trường Tiền đã ba lần sập đổ. Lần đầu tiên cầu gãy là vào năm 1904 do tác động của cơn bão lịch sử. Lần thứ hai là vào năm 1946, lần này cầu sập do chủ trương của kháng chiến phải chặn đường quân Pháp nên đã dùng thuốc nổ làm sập tới hơn 3 mét cầu. Lần thứ ba là vào năm 1968, cầu sập do một tấn thuốc bom của quân Mỹ thả xuống, đã phá hủy hoàn toàn trụ cầu thứ 3 và hư hại nghiêm trọng trụ cầu thứ 4.
Thực sự thì cầu Trường Tiền có 6 nhịp và 12 vài nhé mọi người

------Thuê xe, đặt phòng, hướng dẫn viên-----
Vui lòng liên hệ sđt/zalo: 0788.235.777 hoặc https://m.me/HueEZ

CÓ MỘT ĐẤU TRƯỜNG LA MÃ NẰM TRONG PHỐ HUẾ       ---------------------------Đấu trường Hổ Quyền ở thôn Trường Đá, phường ...
30/07/2022

CÓ MỘT ĐẤU TRƯỜNG LA MÃ NẰM TRONG PHỐ HUẾ

---------------------------
Đấu trường Hổ Quyền ở thôn Trường Đá, phường Thủy Biều cách trung tâm TP Huế khoảng 3 km được xây dựng vào năm 1830 dưới thời vua Minh Mạng.
Đấu trường này là nơi triều đình tổ chức các trận chiến giữa voi và hổ để tôn vinh oai dũng của loài voi. Trước đây khi chưa xây dựng đấu trường Hổ Quyền, triều đình Nguyễn thường tổ chức các trận chiến giữa voi và hổ ở bãi đất trống trên cồn Dã Viên nằm giữa dòng sông Hương cách đó khoảng 2 km.
Khi nhìn đấu trường Hổ Quyền chúng ta sẽ cảm nhận được có một chút gì đó của đấu trường La Mã. Đấu trường được xây dựng lộ thiên, có cấu trúc theo hình tròn, hai vòng thành trong và ngoài được sử dụng gạch vồ. Vòng thành trong cao 5,8 m, vòng thành ngoài cao 4,75 m, dày trung bình 4,5 m. Thành ngoài nghiêng tạo kiểu chân đế, chu vi tường ngoài là 140 m, đường kính lòng chảo là 44 m. Ngoài thành có cửa cao với hai cánh bằng gỗ, đế làm bằng phiến đá thanh, trên cửa có ghi chữ "Hổ Quyền", voi được đưa vào sân đấu bằng cửa này. Theo sử sách, trận chiến voi và hổ cuối cùng diễn ra ở đấu trường Hổ Quyền được tổ chức vào năm 1904 dưới thời vua Thành Thái.
Sau chiến tranh, đấu trường Hổ Quyền hoang phế và bỏ không, trông rất nhếch nhác.
Để hồi sinh di tích này, cuối năm 2019, đấu trường được Trung tâm Di tích cố đô Huế tiến hành trùng tu, gồm các hạng mục: hệ thống tường thành, bậc cấp, hệ thống ròng rọc gỗ mở cửa các chuồng hổ. Hiện nay, việc tu bổ đang ở trong giai đoạn nghiệm thu...
------Thuê xe, đặt phòng, hướng dẫn viên-----
Vui lòng liên hệ sđt/zalo: 0788.235.777 hoặc https://m.me/HueEZ

Nguồn từ VNExpresss

Ý NGHĨA NIÊN HIỆU CỦA CÁC VỊ VUA TRIỀU NGUYỄN      Trong triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam kéo dài 143 năm có ...
29/07/2022

Ý NGHĨA NIÊN HIỆU CỦA CÁC VỊ VUA TRIỀU NGUYỄN


Trong triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam kéo dài 143 năm có tổng cộng 13 vị vua. Mọi người có thắc mắc niên hiệu của các vị hoàng đế có ý nghĩa gì không?
Việc đặt niên hiệu sau khi đăng cơ là điều rất quan trọng và có liên quan mật thiết đến ý chí chính trị. . Bằng hình thức niên hiệu, hoàng đế đưa ý chí chính trị của mình thẩm thấu vào cuộc sống thường nhật của quốc gia.
Trong bài post này mình sẽ để 4 vị vua đầu tiên
#1: Vị vua đầu tiên mình muốn giới thiệu với mọi người là vua “Gia Long” (18 năm, 1802-1819)
Nguyễn Thế Tổ Nguyễn Phúc Ánh là người sáng lập ra triều Nguyễn. Năm 1802, Nguyễn Thế Tổ đánh bại triều Tây Sơn. Năm sau, đổi niên hiệu Gia Long, lập ra triều Nguyễn. Đặt quốc hiệu là Nam Việt, về sau, triều Thanh sắc phong ông làm Nam Việt Quốc Vương. Ý nghĩa của cái tên Gia Long lấy từ cụm từ “Gia Định Thăng Long”, để bày tỏ ý nghĩa thống nhất thiên hạ (Việt Nam).
#2: Vua Minh Mạng (21 năm, 1820-1840), vị vua tài giỏi nhất trong 13 vị vua
Vua Minh Mạng là con thứ 4 của Nguyễn Thế Tổ Gia Long. Đại Nam Thánh Tổ, tên húy Nguyễn Phúc Đảm, lên ngôi năm Gia Long thứ 18 (1819), đổi niên hiệu Minh Mạng. Trong thời gian ông trị vì, quốc lực cường thịnh nhất. Niên hiệu Minh Mạng lấy từ sách “Thượng thư – Hàm hữu nhất đức”: “Khắc hưởng thiên tâm, thụ thiên minh mạng” (Được hưởng lòng trời, thì được cái mệnh sáng của trời).
#3: Thiệu Trị – Niên hiệu của vua Đại Nam Hiến Tổ (7 năm, 1841 – 1847)
Đại Nam Hiến Tổ Nguyễn Phúc Tuyền tên ban đầu là Nguyễn Phúc Miên Tông, con trai trưởng đích hệ của vua Minh Mạng. Thiệu Trị kế thừa đế quốc Đại Nam hùng mạnh, lãnh thổ bao gồm cả Cao Miên (Cam-pu-chia), Vạn Tượng (Lào)… Để bày tỏ kính trọng cha – vua Minh Mạng nên định niên hiệu là Thiệu Trị, với ý nghĩa là “Thiệu tiên hoàng Minh Mạng chi Trị” (Nối nghiệp trị vì của tiên hoàng Minh Mạng).
#4: Tự Đức – Niên hiệu của vua Đại Nam Dực Tông (36 năm, 1848 – 1883)
Đại Nam Dực Tông Nguyễn Phúc Thì tên gốc là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, con trai đích hệ của vua Thiệu Trị (con trai thứ 2). Trong “Đại Nam thực lục đệ tứ kỷ” viết, nghĩa của Tự Đức là “Tự tiên hoàng Thiệu Trị chi Đức” (kế thừa đức của vua cha Thiệu Trị).
#7: Kiến Phúc – Niên hiệu của vua Đại Nam Giản Tông (1 năm, 1884)
Đại Nam Giản Tông tên húy là Nguyễn Phúc Hạo, tên gốc là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, là con nuôi của Tự Đức (con thứ 3). Quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết sau khi phế giết vua Hiệp Hòa, ngày 30 tháng 11 năm 1883 lập Giản Tông, đổi niên hiệu là Kiến Phúc. Trị vì 1 năm, thời gian đó Việt Nam và Pháp ký “Hiệp ước Thuận Hóa thứ 2”, Việt Nam trở thành nước bảo hộ của Pháp. Việt Nam đem ấn vàng Việt Nam Quốc Vương do triều Thanh ban nấu chảy, tuyên bố thoát ly quan hệ triều cống với triều Thanh.
#8: Hàm Nghi – Niên hiệu của vua Đại Nam Xuất Đế (năm 1885, phong trào Cần Vương sử dụng đến năm 1889)
Vua Hàm Nghi tên húy là Nguyễn Phúc Minh, tên gốc là Nguyễn Phúc Ưng, con của Kiên Thái Vương. Vua Kiến Phúc mất, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết chuyên quyền không muốn để con nuôi thứ 2 của Tự Đức Nguyễn Phúc Ưng Kỳ lên ngôi, bèn đưa em trai Nguyễn Phúc Ưng Kỳ là Nguyễn Phúc Ưng Ủng lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Hàm Nghi. Hàm Nghi có nguồn gốc từ “Thi Kinh”: “Cảnh viên duy hàn thụ mệnh hàm nghi, bách lộc thị hà” (Núi Cảnh Sơn có sông lớn bao quanh, triều kế thừa triều Thương là thu mệnh trời, tất cả đều thích hợp, trăm lộc đều có cả). Nó phản ánh khát vọng cho nhân dân được yên vui của Hàm Nghi.
#9: Đồng Khánh – Niên hiệu của vua Đại Nam Cảnh Tông (4 năm, 1885 – 1888)
Đại Nam Cảnh Tông tên húy là Nguyễn Phúc Biện, tên gốc là Nguyễn Phúc Ưng Thị, là con nuôi thứ 2 của vua Tự Đức, năm Tự Đức thứ 35 được vua Tự Đức sắc phong làm Kiên Giang Quận Công. Sau khi vua Hàm Nghi ra đi phát động phong trào Cần Vương, chính quyền thuộc địa Pháp để vỗ về dân chúng đã thương lượng cùng Từ Dụ thái hậu lập Kiên Giang Quận Công Nguyễn Phúc Ưng Thị làm hoàng đế.
Sau đổi tên theo tên đế hệ là Nguyễn Phúc Biện và làm lễ tấn quang, ngày 10 lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Đồng Khánh, từ ngày 22 tháng 5 năm Hàm Nghi thứ nhất đổi là năm Ất Dậu Đồng Khánh, năm sau bắt đầu gọi là năm thứ nhất. Đồng Khánh có nghĩa là “Trung hưng đồng khánh” (phục hưng lại, tất cả đều vui mừng).
#10: Thành Thái – Niên hiệu của vua Thành Thái
Vua Thành Thái tên húy là Nguyễn Phúc Chiêu, tên gốc là Nguyễn Phúc Bửu Lân, là con của Cung Tông. Năm Đồng Khánh thứ 3 vua Đồng Khánh qua đời, Khâm sứ Trung Kỳ người Pháp Lê-na đưa Nguyễn Phúc Bửu Lân lên ngôi, và đổi tên theo tên đế hệ là Nguyễn Phúc Chiêu, đổi niên hiệu là Thành Thái. Thành Thái có nguồn gốc từ “Dịch Kinh” là “Thái, tiểu vãng đại lai, cát hanh. Tắc thị thiên địa giao, nhi vạn vật thông dã” (Thái, đi nhỏ về lớn, tốt lành. Tức là trời đất giao hòa, vạn vật hanh thông). Có ý nghĩa là quẻ Thái là trời đất giao hòa mà Thành. Thái có nghĩa là an định.
#11: Duy Tân – Niên hiệu vua kế tiếp Đại Nam (10 năm, 1907 – 1916)
Vua Duy Tân tên húy là Nguyễn Phúc Hoảng, tên gốc là Nguyễn Phúc Vĩnh San, là con trai vua Thành Thái. Năm Thành Thái thứ 17, Nguyễn Phúc Vĩnh San mới 8 tuổi được lập làm hoàng đế, đổi tên là Nguyễn Phúc Hoảng, đổi niên hiệu là Duy Tân, Duy Tân có nguồn gốc từ sách “Thượng Thư” là “Hàm dữ duy tân” (Tất cả đều được đổi mới), với ý nghĩa là Đại Nam dưới sự bảo hộ của người Pháp, đất nước đổi mới, mọi người dân được an lạc.
#12: Khải Định – Niên hiệu của vua Đại Nam Hoằng Tông (10 năm, 1916 – 1925)
Tên húy là Nguyễn Phúc Tuấn, tên gốc là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, là con của vua Đồng Khánh. Ngày 18 tháng 5 năm 1916 (ngày 27 tháng 4 năm Duy Tân thứ 10) Nguyễn Phúc Bửu Đảo được thực dân Pháp lập làm hoàng đế Việt Nam, đổi niên hiệu là Khải Định. “Khải” là khai mở, “Định” là bình an, an định. Vì 2 vua Thành Thái, Duy Tân làm trái ngược ý chí của người Pháp, Khải Định mang ý nghĩa cam chịu làm bù nhìn cho người Pháp nên đặt niên hiệu là Khải Định. Trong thời gian trị vì ông đã ban bố nhiều pháp lệnh có lợi cho người Pháp. Ông cũng giống cha ông không nhận được nhiều thiện cảm của người dân Việt Nam.
#13: Bảo Đại – Niên hiệu hoàng đế cuối cùng
Vua Bảo Đại, hoàng đế cuối cùng của Việt Nam tên húy là Nguyễn Phúc Thiển, tên gốc là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy. Năm Khải Định thứ 10 (1926), Khải Định tạ thế, ông kế vị làm hoàng đế, đổi niên hiệu là Bảo Đại. Bảo Đại lấy từ “Tả Truyện – kỳ lục nhật” là “Tuy vạn bang, lũ phong niên, bảo đại, định công, an dân, hòa chúng” (Dẹp yên vạn nước, liên tiếp được mùa, giữ được vị trí nước lớn, lập công đức, làm dân yên ổn, hòa hợp với tất cả mọi người), ngụ ý là kéo dài phúc tộ nhà Nguyễn, lập công dựng nghiệp. Tiếc rằng Bảo Đại cũng giống như các tiên đế, vai trò quá mờ nhạt trong khi nhận sự bảo hộ của người Pháp. Các vua cũng sử dụng niên hiệu này là Tộ Đế nước Liêu, Trung Tông, nước Nam Đường đều giống nhau là phúc lộc quốc tộ hết.

------Thuê xe, đặt phòng, hướng dẫn viên-----
Vui lòng liên hệ sđt/zalo: 0788.235.777 hoặc https://m.me/HueEZ

Address

Vicoland, TP Huế
Hue
52000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Huế EZ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Huế EZ:

Share