Vẻ Đẹp Thái Bình - Thành Phố Thái Bình
Thái Binh Thái Bình, Việt Nam
Hãy gửi nh?
Address
Thái Bình
Website
Alerts
Be the first to know and let us send you an email when Vẻ Đẹp Thái Bình posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.
Shortcuts
Vẻ Đẹp Thái Bình
Hãy Chia Sẻ Ảnh Đẹp, Ẩm Thực, Địa Điểm Du Lịch, Lễ Hội, Tin Tức Nóng Của Tỉnh Thái Bình Mà Bạn Biết Gửi Ngay Cho Page Nhé!
Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Hồng, miền Bắc Việt Nam. Trung tâm tỉnh là thành phố Thái Bình cách thủ đô Hà Nội 110 km về phía đông nam, cách thành phố Hải Phòng 70 km về phía tây nam. Thái Bình tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố: Hải Dương ở phía bắc, Hưng Yên ở phía tây bắc, Hải Phòng ở phía đông bắc, Hà Nam ở phía tây, Nam Định ở phía tây và tây nam. Phía đông là biển Đông (vịnh Bắc Bộ).Hành chínhThái Bình được chia thành 7 huyện và 1 thành phố trực thuộc là:Thành phố Thái BìnhThành phố Thái Bình (tỉnh lỵ) gồm 10 phường và 9 xã:
Huyện Đông HưngHuyện Đông Hưng (sáp nhập 2 huyện Đông Quan và Tiên Hưng) 1 thị trấn và 43 xã Thị trấn Đông Hưng (huyện lị) · Xã: An Châu · Bạch Đằng · Chương Dương · Đô Lương · Đông Á · Đông Các · Đông Cường · Đông Dương · Đông Động · Đông Giang · Đông Hà · Đông Hoàng · Đông Hợp · Đông Huy · Đông Kinh · Đông La · Đông Lĩnh · Đông Phong · Đông Phương · Đông Quang · Đông Sơn · Đông Tân · Đông Vinh · Đông Xá · Đông Xuân · Đồng Phú · Hoa Lư · Hoa Nam · Hồng Châu · Hồng Giang · Hồng Việt · Hợp Tiến · Liên Giang · Lô Giang · Mê Linh · Minh Châu · Minh Tân · Nguyên Xá · Phong Châu · Phú Châu · Phú Lương · Thăng Long · Trọng QuanHuyện Hưng HàHuyện Hưng Hà (sáp nhập 2 huyện Hưng Nhân và Duyên Hà) 2 thị trấn và 33 xã. Lịch sử: Huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình được thành lập từ 1969 trên cơ sở sáp nhập 2 huyện Duyên Hà - Hưng Nhân và 5 xã của huyện Tiên Hưng cũ. Huyện nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Thái Bình, cách Thành phố Thái Bình khoảng 27 km. Phía Bắc tiếp giáp huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam, phía Nam giáp huyện Vũ Thư, phía Đông giáp huyện Quỳnh Phụ và Đông Hưng. Tổng diện tích đất tự nhiên là 20.041,9 ha, huyện Hưng Hà 33 xã và 2 thị trấn:Trấn Hưng Hà( Huyện lị). Thị Trấn Hưng Nhân Xã: Bắc Sơn · Canh Tân · Chí Hòa · Chi Lăng · Cộng Hòa · Dân Chủ · Duyên Hải · Điệp Nông · Đoan Hùng · Độc Lập · Đông Đô · Hòa Bình · Hòa Tiến · Hồng An · Hồng Lĩnh · Hồng Minh · Hùng Dũng · Kim Chung · Liên Hiệp · Minh Hòa · Minh Khai · Minh Tân · Phúc Khánh · Tân Hòa · Tân Lễ · Tân Tiến · Tây Đô · Thái Hưng · Thái Phương · Thống Nhất · Tiến Đức · Văn Cẩm · Văn LangHuyện Kiến XươngHuyện Kiến Xương (tách ra từ phủ Kiến Xương tỉnh Nam Định (cũ). Sau Cách mạng Tháng Tám gọi là huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình) 1 thị trấn và 36 xã Thị trấn Thanh Nê (huyện lị) · Xã: An Bình · An Bồi · Bình Định · Bình Minh · Bình Nguyên · Bình Thanh · Đình Phùng · Hòa Bình · Hồng Thái · Hồng Tiến · Lê Lợi · Minh Hưng · Minh Tân · Nam Bình · Nam Cao · Quang Bình · Quang Hưng · Quang Lịch · Quang Minh · Quang Trung · Quốc Tuấn · Quyết Tiến · Thanh Tân · Thượng Hiền · Trà Giang · Vũ An · Vũ Bình · Vũ Công · Vũ Hòa · Vũ Lễ · Vũ Ninh · Vũ Quý · Vũ Sơn · Vũ Tây · Vũ Thắng · Vũ TrungHuyện Quỳnh PhụHuyện Quỳnh Phụ (sáp nhập 2 huyện Quỳnh Côi và Phụ Dực) 2 thị trấn và 36 xã Thị trấn Quỳnh Côi (huyện lị. Thị trấn An Bài Xã: An Ấp · An Cầu · An Đồng · An Dục · An Hiệp · An Khê · An Lễ · An Mỹ · An Ninh · An Quý · An Thái · An Thanh · An Tràng · An Vinh · An Vũ · Đông Hải · Đồng Tiến · Quỳnh Bảo · Quỳnh Châu · Quỳnh Giao · Quỳnh Hải · Quỳnh Hoa · Quỳnh Hoàng · Quỳnh Hội · Quỳnh Hồng · Quỳnh Hưng · Quỳnh Khê · Quỳnh Lâm · Quỳnh Minh · Quỳnh Mỹ · Quỳnh Ngọc · Quỳnh Nguyên · Quỳnh Sơn · Quỳnh Thọ · Quỳnh Trang · Quỳnh XáHuyện Thái ThụyHuyện Thái Thụy (sáp nhập 2 huyện Thái Ninh và Thụy Anh) Gồm thị trấn Diêm Điền và 47 xã là: Hồng Quỳnh . Mỹ Lộc · Thái An · Thái Đô ·Thái Dương · Thái Giang · Thái Hà · Thái Hòa · Thái Học · Thái Hồng · Thái Hưng · Thái Nguyên · Thái Phúc · Thái Sơn · Thái Tân · Thái Thành · Thái Thịnh · Thái Thọ · Thái Thuần · Thái Thượng · Thái Thủy · Thái Xuyên · Xã Thụy An · Thụy Bình · Thụy Chính · Thụy Dân · Thụy Dũng · Thụy Duyên · Thụy Dương · Thụy Hà · Thụy Hải · Thụy Hồng · Thụy Hưng · Thụy Liên · Thụy Lương · Thụy Ninh · Thụy Phong · Thụy Phúc · Thụy Quỳnh · Thụy Sơn · Thụy Tân · Thụy Thanh · Thụy Trình · Thụy Trường · Thụy Văn · Thụy Việt · Thụy XuânHuyện Tiền HảiHuyện Tiền Hải gồm 1 thị trấn và 34 xã Thị trấn Tiền Hải (huyện lị) · Xã: An Ninh · Bắc Hải · Đông Cơ · Đông Hải · Đông Hoàng · Đông Lâm · Đông Long · Đông Minh · Đông Phong · Đông Quý · Đông Trà · Đông Trung · Đông Xuyên · Nam Chính · Nam Cường · Nam Hà · Nam Hải · Nam Hồng · Nam Hưng · Nam Phú · Nam Thanh · Nam Thắng · Nam Thịnh · Nam Trung · Phương Công · Tây An · Tây Giang · Tây Lương · Tây Ninh · Tây Phong · Tây Sơn · Tây Tiến · Vân Trường · Vũ LăngHuyện Vũ ThưHuyện Vũ Thư (sáp nhập 2 huyện Vũ Tiên và Thư Trì) 1 thị trấn và 29 xã Thị trấn Vũ Thư (huyện lị) · Xã: Bách Thuận · Đồng Thanh · Dũng Nghĩa · Duy Nhất · Hiệp Hòa · Hòa Bình · Hồng Lý · Hồng Phong · Minh Khai · Minh Lãng · Minh Quang · Nguyên Xá · Phúc Thành · Song An · Song Lãng · Tam Quang · Tân Hòa · Tân Lập · Tân Phong · Trung An · Tự Tân · Việt Hùng · Việt Thuận · Vũ Đoài · Vũ Hội · Vũ Tiến · Vũ Vân · Vũ Vinh · Xuân HòaTỉnh Thái Bình có 287 đơn vị cấp xã gồm 10 phường, 9 thị trấn và 268 xãĐiều kiện tự nhiênThái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa: mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh, khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau.Địa hình khá bằng phẳng với độ dốc thấp hơn 1%; độ cao phổ biến từ 1-2 m trên mực nước biển, thấp dần từ bắc xuống đông nam.Thái Bình có bờ biển dài 52 km.Tỉnh này có 4 con sông khá lớn chảy qua: phía bắc và đông bắc có sông Hóa dài 35 km, phía bắc và tây bắc có sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài 53 km, phía tây và nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67 km, sông Trà Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ tây sang đông dài 65 km. Các sông này tạo ra 4 cửa sông lớn: Diêm Điền (Thái Bình), Ba Lạt, Trà Lý, Lân. Do đặc điểm sát biển nên chúng đều chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, mùa hè mức nước dâng nhanh với lưu lượng lớn và hàm lượng phù sa cao, mùa đông lưu lượng giảm nhiều và lượng phù sa không đáng kể khiến nước mặn ảnh hưởng sâu vào đất liền từ 15-20 km.
Dân sốNăm 2004, Thái Bình có 1.842.800 người với mật độ dân số 1.195 người/km².Dự báo dân số năm 2010 là 1.902.400 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giai đoạn 2006 -2010 là 0.86 %/năm.Thành phần dân số
Phấn đấu đạt tỉ lệ đô thị hoá 22,3% năm 2015, đến năm 2020 tỉ lệ đô thị hoá đạt khoảng 40%, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động khoảng 67%.Lịch sửVùng đất thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay, vào thời Bắc Thuộc trước thế kỉ 10, thuộc hương Đa Cương (vùng đất từ sông Luộc ra đến biển) của quận Giao Chỉ. Tới nhà Hậu Lê, thời vua Lê Thánh Tông về sau vùng đất Thái Bình ngày nay thuộc trấn Sơn Nam. Đến cuối thời nhà Lê trung hưng sang đầu nhà Nguyễn, vùng này thuộc trấn Sơn Nam Hạ. Năm 1832, vua Minh Mạng nhà Nguyễn cắt hai phủ Thái Bình, Kiến Xương nhập vào tỉnh Nam Định, nhập phủ Tiên Hưng vào tỉnh Hưng Yên.Tỉnh Thái Bình được thành lập vào năm thứ hai niên hiệu Thành Thái nhà Nguyễn (1890), từ hai phủ Kiến Xương và Thái Bình của tỉnh Nam Định và lấy thêm huyện Thần Khê của phủ Tiên Hưng thuộc tỉnh Hưng Yên. Huyện Thần Khê lúc đó được nhập vào phủ Thái Bình, sau đó phủ này được đổi tên thành Thái Ninh. Đến năm 1894, hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà, phần còn lại của phủ Tiên Hưng cũng được nhập về tỉnh Thái Bình từ Hưng Yên, và phủ Tiên Hưng được tái lập trực thuộc tỉnh Thái Bình. Như vậy lúc mới thành lập, tỉnh Thái Bình có 3 phủ là: Kiến Xương, Thái Ninh, Tiên Hưng, trong đó bao gồm 12 huyện:
Sau đó, đơn vị hành chính cấp phủ bị loại bỏ, các huyện có sở lị phủ thì đổi theo tên của phủ kiêm quản trước đó: Thanh Quan thành Thái Ninh, Trực Định thành Kiến Xương, Thần Khê thành Tiên Hưng.Tỉnh lị tỉnh Thái Bình khi mới thành lập năm 1890, đặt tại xã Kỳ Bố, trước là huyện lị của huyện Vũ Tiên (từ thời Minh Mạng). Sau này, tỉnh lị Thái Bình phát triển mở rộng sang các huyện lân cận thành thị xã Thái Bình, rồi thành thành phố Thái Bình.Kinh tế
Các khu Công nghiệp của Tỉnh Thái Bình
Ngoài các khu Công nghiệp trên, Chính phủ đã chấp nhận cho phát triển các khu Công nghiệp:
Công ty Bất động sản Dầu khí đang lập kế hoạch đầu tư Khu Công Nghiệp Minh Hoà với diện tích 500ha và 40ha đô thị kèm theo chia làm 2 giai đoạn. Hiện nay đã hoàn thành quy hoạch 1/2000, năm 2010 triển khai hạ tầng, năm 2011 thu hút đầu tưTài nguyênCác khoáng sản chính:
Văn hóa-xã hộiVăn hóa truyền thốngCó gần 82 lễ hội đặc sắc, 16 loại hát múa, trò chơi như: chiếu chèo "làng Khuốc", trò múa rối nước làng Nguyên Xá (Đông Hưng) và làng vườn Bách Thuận (Vũ Thư) v.v.Phát triển mạnh du lịch văn hoá gắn với các lễ hội, giỗ tổ Đền Trần, tham quan chùa Keo, đền Đồng Bằng, đền Tiên La, du lịch sinh thái gắn với xây dựng Khu du lịch Cồn vành, Cồn Thủ, du lịch làng nghề (Đồng sâm, Nam Cao - Kiến Xương ...), du lịch biển (Đồng Châu - Tiền Hải), đặc là khu resort Cồn Đen đang được xây dựng tại xã Thái Đô, Thái Thụy, Thái Bình- Từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 16 tháng 10 năm 2009, tại Quảng trường 14 tháng 10 Thành phố Thái Bình diễn ra Ngày hội VHTT và DL các tỉnh đồng bằng sông Hồng lần thứ nhấtDanh nhânTrước cách mạng tháng tám
Sau cách mạng tháng tám 1945
Từ 1975 - nay
Đặc sảnẨm ThựcBánh cáyCác loại bánh đều có thể làm ra ở các vùng quê khác nhau. Nhưng cũng có những loại bánh được gắn liền với từng vùng quê nơi sinh ra nó như: bánh đậu xanh Hải Dương, mè xửng Huế... Bánh cáy là một loại bánh vốn nổi tiếng ở vùng quê lúa Thái Bình.Từ thành phố Thái Bình theo quốc lộ 10 tới quốc lộ 39 gặp làng Nguyễn là quê hương của bánh cáy. Làng Nguyễn rất nổi tiếng với các sản phẩm của nghề dệt, nghề chế biến thực phẩm song đồ quý tiến vua thì chỉ có bánh cáy. Xưa khi quan đại thần triều đình đi kinh lí vùng châu thổ, khi qua làng Nguyễn được dân dâng lên tiến vua vào mỗi dịp tết đến.Nguyên liệu chính của bánh cáy là gạo nếp và các nguyên liệu phụ: gấc, quả dành dành, lạc, vừng, cà rốt, gừng, vỏ quýt, mỡ lợn.Gạo nếp làm bánh được chia làm 2 phần, một phần đồ xôi với nước quả gấc; phần còn lại đồ xôi với nước quả dành dành tạo nên màu vàng tươi. Hai loại xôi này đều được giã bằng chày như làm bánh giầy. Sau khi giã nhuyễn đều, cán mỏng, cắt thành lát như mứt bí rồi sấy khô. Sấy xong cho vào chảo mỡ lợn đang sôi đảo đều tới khi lát bánh thơm giòn.Các nguyên liệu phụ như lạc, vừng được rang chín ròn, xát bỏ vỏ. gạo nếp hoa vàng được rang nổ bỏng, nở tung, sạch trấu, dậy mùi thơm. Mỡ lợn khẩu muối đường hơn nửa tháng, đem ra thái nhỏ như hạt lựu, xào ngọt lấy độ trong, giòn. Cà rốt xào nước đường, nước gừng, vở quýt tươi được chuẩn bị đầy đủ.Cho các nguyên liệu đã chuẩn bị trộn đều với đường mía, hâm nóng trên chảo đến khi đạt tới mùi thơm kỹ thuật thì đưa vào khuôn gỗ được chuẩn bị sẵn có lót vừng bên trong, nhồi nén cho bánh trở nên cứng, sau đó lấy ra cho vào bao bì, ta sẽ được bánh cáy thành phẩm. Bánh không phơi nắng, không sấy qua lửa nhưng để được rất lâu nếu làm đúng kỹ thuật.Bánh cáy xắt miếng, ăn xong nên uống nước trà xanh nóng.Canh cá Quỳnh CôiCanh cá Quỳnh Côi là món ăn dân tộc, dân dã mang hương vị thơm ngon của vùng quê Quỳnh Côi Thái Bình. Xưa cư dân địa phương chỉ làm canh cá với loại cá rô đồng có màu vàng mượt sống ở vùng có đất sét màu đỏ. Vào tháng 3 hàng năm, cá rô sinh sôi nảy nở. Đến tháng 10 cá ăn hoa lúa nên rất béo và thơm. Cá rô bắt được sẽ dùng làm canh cá. Đi trên con đường chạy dọc từ chân cầu Bo xuống, dù chưa thưởng thức nhưng chỉ nhìn những trái ổi được bày bán là đã có thể cảm nhận được sự thơm ngon của sản vật, từ màu sắc cho đến dáng quả. Nhưng để tìm ra được giống ổi Bo chính hiệu, trồng trên đất nguyên thổ của làng Bo với chất đất phù sa nhẹ tốt thì không phải dễ. Vì ổi Bo chính hiệu Thái Bình mỗi năm chỉ thu hoạch một vụ vào tháng 7. Ngày nay, cá rô tự nhiên không còn nhiều, muốn làm canh cá có thể dùng một số loại cá nuôi khác để thay thế. Trải qua thời gian, tùy theo từng khẩu vị khác nhau, món canh cá Quỳnh Côi có nhiều cách làm khác nhau đôi chút. Thông thường thì cá dùng làm canh phải còn tươi ngon. Cho cá vào bếp nướng, rán hoặc luộc đến vừa chín tới thì đưa ra khỏi bếp. Sau khi khử sạch vẩy, vây và xương thì cắt cá thành miếng hoặc dằm tơi. Tới đây ta có thể để nguyên mà làm thành canh hoặc có thể tiếp tục đưa cá vào chảo hấp hoặc rán với gừng cho miếng cá trở nên cứng, có mùi thơm và vị cay nóng của gừng già.Cá sau khi được chế biến như trên được dùng làm canh với bánh đa hoặc cháo, nước dùng và gia vị chanh, ớt, mùi tầu, thì là, rau răm. Món canh cá dùng với sợi bánh đa là ngon nhất. Sợi bánh đa dùng làm canh cá phải được làm từ gạo chiêm mùa trước, sợi phải mỏng, mịn và dai thì bát canh cá mới ngon.Thưởng thức bát canh cá bốc hơi nghi ngút với rau rút vào mùa hè hoặc rau cải cúc vào mùa đông.Gỏi nhệchỞ vùng quê ven biển Thái Thuỵ, ngoài món hải sản nổi tiếng là cá khoai thì còn có món gỏi nhệch. Con nhệch có màu sắc và hình dáng tựa như lươn nước ngọt, chỉ có điều dài hơn một chút. Nhệch càng nhỏ càng tốt cho việc làm gỏi vì xương mềm, thịt mịn và ngọt. Nhệch được làm sạch nhớt bằng tro và lá nhái, sau đó mổ bụng vứt ruột đi, bỏ đầu đuôi, chỉ dùng thân. Thân nhệch được cắt ra nhiều đoạn: mỗi đoạn dài từ 2-3 cm. Mỗi đoạn đó lại được khía làm nhiều khúc nhỏ, không đứt hẳn, sau đó lấy khăn sạch thấm nước và cho vào bát ô tô, rắc bột ngọt, ớt khô, riềng giã nhỏ, thính gạo nếp, chờ dậy mùi là được. Nước dùng chỉ bao gồm 2 vị chua ngọt, vị chua được lấy từ quả cà chua luộc lên mà thành, vị ngọt được tạo nên từ đường. Khi dùng món gỏi nhệch bắt buộc phải có các loại rau như: lá chanh, lá sung, rau húng, tía tô,….Sứa MuốiỞ vùng quê ven biển Thái Thụy còn có món hải sản nối tiếng là sứa muối. Sứa là một hải sản đặc trưng của các vùng biển, từ những con sứa này ta có thể chế biến ra rất nhiều các món ăn khác nhau, trong đó có món nộm sứa và sứa muối. Sứa muối được chế biến từ nhưng con sứa tươi, được rửa sạch và cắt khúc thành những tảng nhỏ; sau đó được ngâm vào các bình, chum hoặc vại lớn. Nước muối sứa chua được làm từ quả cây vẹt (cây vẹt là một trong những loại cây nước lợ ven biển). Qua thời gian ngâm chua từ 3-4 tuần. Những miếng sứa ngâp được nhừ rất chua và chuyển màu thành mầu nâu đặc trưng. Đó là lúc ta có món sứa chua (sứa muối). Khi ăn, ta cắt nhỏ những miếng to ra thành các miếng nhỏ đều nhau. Nước chấm sứa muối là mắm tôm pha với chanh, ớt,... Rau ăn kèm là những loại rau như dậu rách, kinh giới, húng chũi,...Ổi BoTheo những người trồng ổi lâu năm ở làng Bo: để nhận biết trái ổi Bo Thái Bình, thì nhìn bề ngoài, trái phải bé chừng nắm tay nhưng cầm chắc nịch. Rốn quả ổi nhỏ xíu không thể lớn hơn hạt đậu. Và để có những trái ổi Bo thơm ngon, mang tinh tuý riêng của đồng đất và con người Thái Bình không nơi nào sánh được như thế, người làng Bo đã rất cẩn thận và tỷ mỉ từ khâu gieo trồng tới chăm sóc. Đất trồng ổi Bo phải là đất nguyên thổ, chua mặn, không được quá ấm, không được quá khô. Giống ổi Bo tốt thì phải được chọn lấy hạt từ cây mới bói, quả ở cành ngồng, lúc thời tiết có mưa nhiều. Kỳ công hơn là lấy bùn dưới ao đem phơi khô rồi đánh tơi trộn với phân bắc bón cho cây. Có như thế, trái ổi Bo Thái Bình mới tạo ra được những hương vị đặc trưng riêng. Tuy chỉ bé bằng cái chén nhỏ thôi, nhưng khi thưởng thức sẽ thấy được hương vị man mát, thơm giòn của trái ổi. Đầu tiên là vị chát, sau đó là vị chua dịu rồi vị ngọt.Đã có nhiều người ở tỉnh khác, sau khi được thưởng thức trái ổi Bo đến xin giống về trồng. Nhưng khi gieo trồng xong, đến mùa thu hoạch, trái ổi lại không hội tụ đủ những hương vị thơm ngon như trái ổi Bo được trồng trên đồng đất Thái Bình. Nhiều người nói vui: có lẽ, trái ổi đã trót “nặng lòng” với người làng Bo nên không chịu kết duyên về đất mới.Hiện nay, để bảo vệ và duy trì giống ổi Bo, Sở Khoa học Công nghệ và Sở NN – PTNT tỉnh Thái Bình phối hợp thực hiện đề tài khoa học “duy trì và giữ gìn gen ổi bo Thái Bình”. Khi vùng sinh thái ổi Bo Thái Bình ra đời sẽ là nguồn động lực lớn giúp người dân làng Bo, phường Hoàng Diệu, Thành phố Thái Bình tiếp tục gìn giữ cây đặc sản địa phương. Một thứ quà quê kết tinh từ hồn đất, sông nước và con người quê lúa. "Nguồn : thaibinhtv.vn"Làng nghề nổi tiếngLàng nghề trạm bạc Đồng XâmLàng nằm ở phía Bắc của huyện Kiến Xương, thuộc xã Hồng Thái, đây là một làng nghề chạm khắc trên mặt kim loại. Cách đây hơn 300 năm nghệ nhân nghề chạm bạc tên là Nguyễn Kim Lâu theo thuyền dọc sông Trà Lý về lập nghiệp ở đây. Ông đã truyền nghề chạm bạc cho dân làng, trải qua nhiều thời kỳ đến nay nghề vẫn được duy trì và ngày càng phát triển. Sau khi ông mất, để tưởng nhớ đến công lao của ông nhân dân ở đây đã lập đền thờ ông ở ngay làng gọi là Đền Đồng Xâm. Hàng năm lễ hội đền Đồng Xâm được tổ chức từ ngày 1- 5/4 âm lịch với nghi lễ rước, tế linh đình, các trò chơi dân gian được duy trì và mở rộng nên đã thu hút được nhiều du khách từ các tỉnh, thành về dự. Vào ngày hội các sản phẩm chạm bạc của làng được trưng bầy và bán hàng lưu niệm. nguồn Thaibinh.gov.vnLàng NguyễnLàng Nguyễn chỉ là một tên gọi khác của xã Nguyên Xá huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Nói tới Thái Bình là mọi người nghĩ ngay đến một món đặc sản đó là Bánh Cáy Làng Nguyễn. Cũng không biết nghề làm Bánh Cáy có từ bao giờ nhưng tương truyền ngày xửa ngày xưa ( mình cũng không nhớ là vào đời vua nào nữa) hoàng tử con vua mắc bệnh biếng ăn, bao nhiêu là cao lương ngũ vị nhưng hoàng cũng chẳng chịu ăn và ngày một gầy đi. Hoàng thượng lo lắng đã ban chiếu trong cả nước mong tìm được một món ăn làm cho hoàng tử thích nhất. Sau một thời gian chiếu ban, bao nhiêu là món ngon của lạ được dâng lên nhưng tất cả đều không được hoàng tử để ý đến, tất cả triều đình đều lo cho sức khỏe của người. Một hôm, có một người ăn mặc rách rưới đến xin được yết kiến hoàng thượng và nói rằng có thể làm một món mà sẽ làm cho hoàng tử thích. Nhìn người đàn bà rách rưới, các quan ra mặt khinh bỉ nhưng nghe nói có thể làm được món mà hoàng tử thích nên cũng để cho làm thử xem sao.Sau khi món ăn được dâng lên thì lạ thay hoàng tử đã rất thích và ăn một cách ngon lành. Đức vua và bá quan văn võ đều lấy làm vui mừng, nhà vua quyết định ban thưởng cho người đàn bà đã làm ra thứ bánh đó. Nhưng khi nhà vua cho triệu tập thì người đó đã bỏ đi, nhà vua cho tìm tung tích nhưng chẳng được kết quả j chỉ biết rằng người đó làm nghề mò bán cáy. Để ghi nhớ công ơn của bà, nhà vua quyết định đặt tên cho món đó là món Bánh Cáy. Đó là sự tích mà mọi người được biết về món Bánh Cáy, chẳng biết thục hư ra sao nhưng Bánh Cáy nagyf nay đã trở thành một đặc sản của Thái Bình và Làng Nguyễn đã trở thành cái nôi sản sinh ra món đặc sản đó.Làng Chiếu Hưng NhânLàng Hới (Thái Bình) có nghề dệt chiếu lâu đời và nổi tiếng ở nước ta. Chiếu Hới còn gọi là chiếu Hưng Nhân theo tên huyện cũ, là chiếu Hưng Hà theo tên huyện mới, và chiếu Thái Bình (tên tỉnh). Chưa có ai biết nghề chiếu xuất hiện ở Hới từ bao giờ, cũng như Tổ nghề thật sự là ai. Theo truyền thuyết, vào thời Tiền Lê - Lý (thế kỷ X-XI), làng Hới đã bắt đầu dệt chiếu, rồi phát triển mạnh vào thời Hậu Lê (thế kỷ XV). Nghề dệt chiếu Hới thịnh đạt lúc bấy giờ là nhờ công lao của Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ (1457 - ?)- Ông người làng Hải Triều, huyện Ngự Thiêm, phủ Tân Hưng. Ông thi đỗ Trạng nguyên khoa thi Tân Sửu, niêu hiệu Hồng Đức năm thứ 12 (1481) làm quan tới chức Thượng thư. Khi ông lớn lên, làng Hới đã có nghề dệt chiếu từ lâu. Nhưng chiếu dệt khung đứng, không có ngựa đỡ sợi nên chiếu không đẹp. Đi sứ sang Trung Quốc, khi qua vùng Ngọc Hà, Châu Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây, Phạm Đôn Lễ đã tìm hiểu và học được bí quyết kỹ thuật dệt chiếu của người Trung Quốc. Đó là kỹ thuật dệt khung nằm, có ngựa đỡ sợi dọc, làm cho sợi đay căng, chao cói nhanh hơn và chiếu đẹp hơn. Ông đã phổ biến kinh nghiệm và kỹ thuật dệt mới cho nhân dân. Ông cho cải tiến khung dệt. Nhờ vậy, chiếu Hới đẹp hơn và nổi tiếng từ đó. Dân làng tôn ông là ông Tổ nghề dệt chiếu, gọi ông là "Trạng Chiếu" và lập đền thờ sau khi ông mất; đền thờ Phạm Trạng Nguyên. Như thế, sản phẩm chiếu dệt thủ công của làng Hới từ lâu đã trở thành một sản phẩm tiêu biểu không chỉ của một địa phương nhỏ, mà của cả một tỉnh nông nghiệp loại lớn nhất ở đồng bằng Bắc Bộ và lưu vực sông Hồng.Làng vườn bách thuậnLàng Bách Thuận nằm cách Thành phố Thái Bình 10 km theo hướng Cầu Tân Đệ đi Nam Định thuộc huyện Vũ Thư. Đây là một làng vườn trù phú, rìa làng là bãi phù sa nơi trồng dâu nuôi tằm. Trong làng là những vườn cây ăn quả, cây cảnh. Đến Bách Thuận du khách như lạc vào công viên thu nhỏ với đủ các gam màu đậm, nhạt dọc theo hai bên đường làng là màu xanh của cây hoè, táo. Thiên nhiên ưu đãi cho Bách Thuận phát triển nghề vườn truyền thống, ở đây có đủ các loại hoa quả bốn mùa: táo, ổi, cam, chanh, hồng xiêm, roi, chuối bên cạnh những vườn cây ăn quả là những vườn cây cảnh, cây thế. Mỗi loại cây cảnh đều mang một dáng, nét riêng với những tên gọi khác nhau tuỳ theo sự uốn tỉa của chủ nhân của nó. Bách Thuận còn là một làng quê cổ, tiêu biểu cho vùng quê ở vùng đồng bằng bắc bộ. Nơi đây có chùa Từ Vân và chùa Bách Tính đã được Nhà nước công nhận xếp hạng di tích lịch sử, là một điểm du lịch để du khách đến thăm quan, vãn cảnh. Du khách trong và ngoài nước rất thích thú với cảnh quan, môi trường sinh thái ở làng vườn Bách Thuận này. nguồn Thaibinh.gov.vnGiáo dụcGiáo dục phổ thôngNăm 2004, Thái Bình có 295 trường mầm non, 293 trường tiểu học, 276 trường trung học cơ sở, 39 trường trung học. Học sinh ba cấp tương ứng là: 140.967 - 141.004 - 58.848.Top 100 trường PTTH hàng đầu Việt nam, Thái Bình có 3 trường: Trường Chuyên Thái Bình xếp hạng 21. Trường THPT Nguyễn Du xếp hạng 78, Trường Nguyễn Đức Cảnh xếp hạng 87 (số liệu năm 2007).
10. THPT Bắc Duyên Hà (Địa chỉ: Thị trấn Hưng Hà - huyện Hưng Hà - tỉnh Thái Bình; Điện thoại: (036) 3861.321).11. THPT Quỳnh Côi (Địa chỉ: TT Quỳnh Côi - huyện Quỳnh Phụ - tỉnh Thái Bình; Điện thoại: (036) 3863.370).12. THPT Hưng Nhân (Địa chỉ: TT Hưng Nhân - huyện Hưng Hà - tỉnh Thái Bình; Điện thoại: (036) 3862.024).13. THPT Tây Tiền Hải (Địa chỉ: TT Tiền Hải - huyện Tiền Hải - tỉnh Thái Bình; Điện thoại: (036) 3823.329).14. THPT Nam Tiền Hải (Địa chỉ: Xã Nam Hà - huyện Tiền Hải - tỉnh Thái Bình; Điện thoại: (036) 3883.020; Trường PTTH Nam Tiền Hải được thành lập vào năm 1990)15. Trường THPT Nguyễn Công Trứ16. Trường THPT Vũ Tiên17. Trường THPT Lý Bôn18. Trường THPT Thái Phúc19. Trường THPT Mê Linh20. Trường THPT Nam Duyên Hà21. Trường THPT Quỳnh Thọ22. Trường THPT Nam Duyên Hà23. Trường THPT Bình Thanh24. Trường THPT Chu Văn An[sửa]Giao dục chuyên nghiệpNgoài ra còn có trường đại học:
10. Trường Trung cấp xây dựng (Địa chỉ Vũ Lạc - TP Thái Bình)Thể Dục - Thể ThaoThể dục - Thể Thao phong trào
Thể dục - Thể thao chuyên nghiệp